Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn,..." />
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn,..." />
div style="text-align: justify;">Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn, chất lượng đảm bảo...
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn, chất lượng đảm bảo...
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn, chất lượng đảm bảo. Đây là điều kiện thuận lợi để thu hút đầu tư cũng như khuyến khích các doanh nghiệp, hợp tác xã hình thành và phát triển các chuỗi liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản. Tuy nhiên, tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua chuỗi vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng với kỳ vọng đề ra.
Báo cáo của UBND tỉnh Lâm Đồng cho biết, ngành Nông nghiệp và Phát triển nông thôn (NN&PTNT) của tỉnh hiện nay đang quản lý khoảng 909.088 ha đất, chiếm 93% đất tự nhiên. Trong đó, bao gồm: 539.570 ha đất lâm nghiệp, 367.404 ha đất nông nghiệp, 2.114 ha đất nuôi trồng thủy sản và đất khác. Tổng điều tra dân số và nhà ở năm 2019 trên địa bàn Lâm Đồng cũng chỉ ra rằng, hoạt động sản xuất nông nghiệp của tỉnh ảnh hưởng trực tiếp tới trên 788,2 ngàn người sống ở nông thôn, tương ứng với 60,82% dân số của tỉnh. Và để nâng cao đời sống của người dân nông thôn, sự nghiệp phát triển nông nghiệp đóng vai trò quyết định.
Bức tranh sau tái cơ cấu
Để chuyển đổi nền nông nghiệp, Tỉnh ủy Lâm Đồng đã ban hành Nghị quyết số 05 vào cuối năm 2016 nhắm tới mục tiêu “phát triển nông nghiệp toàn diện, bền vững, hiện đại đến năm 2020 và định hướng đến năm 2025”. Từ đó, giữa năm 2017, UBND tỉnh đã ban hành Kế hoạch số 756 để chỉ đạo tổ chức thực hiện nghị quyết này trên phạm vi toàn tỉnh, tiến hành tái cơ cấu nền nông nghiệp mà trọng tâm hướng vào sản xuất nông nghiệp công nghệ cao.
Theo thống kê của Sở NN&PTNT, tính đến nay diện tích canh tác nông nghiệp của tỉnh duy trì ổn định khoảng 300 ngàn ha và được tổ chức thành các vùng chuyên canh tập trung, phù hợp lợi thế cạnh tranh từng vùng theo đúng tinh thần của Nghị quyết 05 đã đề ra. Cụ thể, tổng diện tích cây ngắn ngày toàn tỉnh là 378,3 ngàn ha, trong đó: rau 68,3 ngàn ha, sản lượng 2,5 triệu tấn; hoa 9,4 ngàn ha, sản lượng 3,68 tỷ cành; lúa 27,8 ngàn ha, sản lượng 158 ngàn tấn; ngô 11,3 ngàn ha, sản lượng 62,8 ngàn tấn. Cây lâu năm 257 ngàn ha, trong đó: cà phê 174,4 ngàn ha, sản lượng 565,8 ngàn tấn; chè 12,4 ngàn ha, sản lượng 188 ngàn tấn; dâu tằm 9 ngàn ha, sản lượng 173,4 ngàn tấn; điều 26,4 ngàn ha, sản lượng 19,6 ngàn tấn; cây ăn quả 19,4 ngàn ha, sản lượng 197,2 ngàn tấn.
Cơ cấu, chủng loại giống cây trồng tiếp tục được chuyển đổi phù hợp với điều kiện sinh thái, đáp ứng yêu cầu ngày càng cao của thị trường và từng bước thích ứng với sự biến đổi của khí hậu. Qua đó, trong 5 năm qua, toàn tỉnh chuyển đổi được trên 60.000 ha giống cây trồng, nhất là một số cây trồng có giá trị kinh tế cao tiếp tục tăng nhanh về diện tích và sản lượng. Bên cạnh đó, diện tích sản xuất nông nghiệp công nghệ cao tiếp tục tăng nhanh và cho đến nay toàn tỉnh hiện có 60.200 ha sản xuất ứng dụng công nghệ cao, tăng 17.116 ha so với năm 2015. Mặt khác, hoạt động chăn nuôi trên địa bàn tỉnh 5 năm qua cũng có bước phát triển với tổng đàn hiện nay bao gồm: 23.400 con bò sữa, sản lượng sữa 89.900 tấn; 92.430 bò thịt và 416.500 con heo; 8.200 ngàn con gia cầm...
Những bước đi nêu trên đã đem lại tốc độ tăng trưởng của ngành nông nghiệp giai đoạn 2016-2020 đạt 5%, đưa cơ cấu kinh tế ngành nông lâm thủy sản đạt 42,41% trong cơ cấu kinh tế chung toàn tỉnh. Nếu xét về cơ cấu nội bộ ngành, trồng trọt chiếm tỷ trọng 81%, chăn nuôi 14% và dịch vụ chiếm tỷ trọng 5% ngành nông nghiệp. Đáng chú ý với diện tích canh tác nông nghiệp hiện nay đem lại giá trị sản xuất bình quân đạt 185 triệu đồng/ha/năm, tăng 27,5% so với năm 2016. Trong đó, sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao đạt 60.200 ha, chiếm 20% diện tích canh tác, giá trị ước đạt trên 40% giá trị sản xuất toàn ngành.
Liên kết - hướng đi tất yếu
Như chúng ta đã biết, hoạt động liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị hiện nay được kế thừa từ việc thực hiện mối liên kết “4 nhà” trong sản xuất nông nghiệp theo tinh thần của Chính phủ về “khuyến khích tiêu thụ nông sản thông qua hợp đồng”. Còn giai đoạn hiện nay, Nghị quyết 05 của Tỉnh ủy Lâm Đồng đã xác định rõ thực hiện liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản là hướng đi tất yếu để xây dựng nền nông nghiệp của tỉnh phát triển toàn diện, bền vững và hiện đại. Vì vậy, tỉnh cũng đề ra những chủ trương, chính sách để đẩy mạnh mối liên kết trong sản xuất nông nghiệp, cụ thể là “Phê duyệt chính sách hỗ trợ liên kết sản xuất và tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp trên địa bàn tỉnh” của HĐND tỉnh và Đề án “Liên kết sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản giai đoạn 2019-2023” của UBND tỉnh. Cùng đó, hàng năm đều bố trí ngân sách tỉnh và lồng ghép nguồn vốn Chương trình Mục tiêu Quốc gia xây dựng nông thôn mới để thực hiện. Như vậy, trong phát triển liên kết chuỗi, Lâm Đồng đã triển khai khá đồng bộ các giải pháp từ chủ trương định hướng, xây dựng kế hoạch, cơ chế, chính sách và bố trí nguồn lực để thực hiện.
Bên cạnh ban hành các chính sách về phát triển liên kết chuỗi, Lâm Đồng cũng chú trọng thực hiện các giải pháp nhằm phát triển các hợp tác xã (HTX) và thut hút đầu tư vào doanh nghiệp, nâng cao hiệu quả hoạt động của các doanh nghiệp, đây là yếu tố hạt nhân, là đơn vị chủ trì để hình thành các hoạt động liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản. Cùng với đó, tỉnh cũng chú trọng xây dựng và phát triển thương hiệu cho các loại nông sản chủ lực của tỉnh để không ngừng mở rộng thị trường, nhất là xây dựng thương hiệu “Đà Lạt - Kết tinh kỳ diệu từ đất lành” được sử dụng cho một số nông sản chủ lực và du lịch canh nông.
Dư địa phát triển
Theo Sở NN&PTNT, thông qua việc thực hiện các giải pháp trên, số lượng và quy mô các chuỗi liên kết trên địa bàn tỉnh tiếp tục tăng nhanh. Đến nay, toàn tỉnh có 145 chuỗi liên kết với sự tham gia liên kết của 90 doanh nghiệp, 44 HTX, 21 tổ hợp tác, 22 cơ sở nhỏ lẻ và 15.800 hộ nông dân trên địa bàn toàn tỉnh. Hầu hết các loại nông sản của tỉnh đều đã có mô hình liên kết chuỗi hình thành và phát triển, trong đó nhiều nhất phải kể đến các sản phẩm rau, kế đến cà phê, chè, trái cây, hoa; còn lại trên các sản phẩm khác. Tổng sản lượng nông sản tham gia chuỗi liên kết hiện nay là 499.346 tấn; trong đó, rau sản lượng 243.476 tấn; cà phê sản lượng 59.603 tấn; cây ăn quả sản lượng 37.274 tấn; chè sản lượng 6.506 tấn; dược liệu sản lượng 3.954 tấn; hoa sản lượng 68 triệu cành; lúa sản lượng 6.972 tấn; quả sản lượng 310 tấn; bò sữa sản lượng 82.464 lít sữa; heo sản lượng 21.371 tấn.
Qua phân tích cho thấy, trong tổng số 145 chuỗi liên kết hiện nay, phần lớn nội dung liên kết là sản xuất và tiêu thụ nông sản. Hiện có 5 chuỗi liên kết hoàn chỉnh theo mô hình chuỗi giá trị (từ cung ứng vật tư, chuyển giao kỹ thuật, thu mua, tiêu thụ nông sản); có 61 liên kết chuyển giao kỹ thuật và tiêu thụ nông sản; 33 chuỗi sử dụng tem truy xuất nguồn gốc và 75 chuỗi liên kết đã được các tổ chức trong nước và quốc tế chứng nhận về chất lượng sản phẩm.
Đánh giá của Sở NN&PTNT cho hay: Thực tế triển khai thực hiện chính sách liên kết chuỗi trên địa bàn tỉnh cho thấy đây là một chủ trương đúng đắn, phù hợp với nhu cầu thiết thực của các doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ nông dân trên địa bàn tỉnh. Đến nay, có nhiều chuỗi liên kết thực hiện khá thành công, đem lại hiệu quả thiết thực cho các bên tham gia liên kết; quy mô sản xuất, sản lượng nông sản và số lượng thành viên tham gia không ngừng tăng qua các năm. Qua hoạt động tại các chuỗi cho thấy, ngoài ổn định đầu ra cho nông sản, chủ động nguồn nguyên liệu cho chế biến, việc các nông sản tham gia liên kết chuỗi có chứng nhận sản phẩm an toàn, được canh tác theo đúng quy trình kỹ thuật, dán tem truy xuất nguồn gốc, được sơ chế và chế biến trước khi đưa ra thị trường nên phần lớn có giá bán cao hơn từ 15-20% giá của sản phẩm cùng loại trên thị trường.
Mặc dù thực tiễn đã chứng minh tính ưu việt của các hình thức liên kết trong sản xuất, nhiều chuỗi liên kết mới được hình thành, số lượng thành viên, quy mô diện tích, sản lượng, chủng loại nông sản tham gia chuỗi tiếp tục tăng qua các năm; tuy nhiên, tỷ lệ nông sản tiêu thụ qua chuỗi vẫn còn thấp, chưa tương xứng với tiềm năng và chưa đáp ứng với kỳ vọng của tỉnh. Hầu hết các sản phẩm khác còn khá thấp mà cụ thể ở đây là: cà phê 11,56%, chè 18,45%, hoa 1,91%, dược liệu 33,03%, quả 20,93%, lúa 4,49%, ca cao 4,33%, mắc ca 13,07%; heo 26,86%, gà thịt 49,06%, trứng gà 8,63%, mật ong 1,23%, cá tầm 7,52%, dâu tằm 0,37.
Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, diện tích canh tác rộng lớn, Lâm Đồng đã hình thành được vùng nguyên liệu tập trung với sản lượng lớn, chất lượng đảm bảo; đây là điều kiện thuận lợi đầu tiên để thu hút đầu tư cũng như khuyến khích các doanh nghiệp, HTX hình thành và phát triển các hoạt động liên kết trong sản xuất và tiêu thụ nông sản, nên dư địa trong phát triển chuỗi liên kết còn rất cao. Trong khi đó, lực lượng doanh nghiệp, HTX, trang trại trên địa bàn tỉnh khá đông đảo và nông dân có kinh nghiệm trong sản xuất là nhân tố, nền tảng để phát triển liên kết.
Định hướng của Lâm Đồng trong thời gian tới đó là: Tiếp tục đẩy mạnh liên kết chuỗi trong sản xuất nông nghiệp gắn với thu hút đầu tư để từng bước nâng cao năng lực cạnh tranh của các sản phẩm nông nghiệp, phát triển thị trường, củng cố thương hiệu, tạo giá trị gia tăng cao cho nông sản hướng tới xây dựng nền nông nghiệp của tỉnh phát triển theo hướng toàn diện, bền vững và hiện đại theo đúng tinh thần Nghị quyết số 05 của Tỉnh ủy; góp phần thực hiện các chỉ tiêu tăng trưởng của ngành nông lâm thủy (GRDP) bình quân toàn giai đoạn 2020-2025 đạt 3 - 3,5%/năm; giá trị sản phẩm thu hoạch trên 1 ha canh tác đạt 200 triệu đồng/ha/năm. Đồng thời, phấn đấu đến năm 2025 có khoảng 50% nông sản được tiêu thụ ổn định qua hợp đồng với sự tham gia của khoảng 65% số hộ nông dân trên địa bàn tỉnh vào các hình thức liên kết trong sản xuất, chế biến và tiêu thụ nông sản.
Bình luận của bạn đã được gửi và sẽ hiển thị sau khi được duyệt bởi ban biên tập.
Ban biên tập giữ quyền biên tập nội dung bình luận để phù hợp với qui định nội dung của Báo.