Đất trong quy hoạch cây xanh, có được cấp sổ và bồi thường giá đất ở?

05/11/2026 11:06

Đất của gia đình ông Nguyễn Nhật Anh (Hải Phòng) đã sử dụng ổn định, đóng thuế đất ở nhiều năm nhưng nằm trong quy hoạch cây xanh, vậy gia đình có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và bồi thường theo giá đất ở khi Nhà nước thu hồi hay không?

Cụ thể, gia đình ông Nhật Anh có một mảnh đất ở, đóng thuế sử dụng đất ở tại đô thị đầy đủ các năm từ khi mua vào năm 2010 (biên lai thu thuế đầy đủ).

Năm 2013, theo quy hoạch của quận và mới đây theo quy hoạch tầm nhìn đến năm 2050 của UBND Thành phố, mảnh đất của gia đình ông Nhật Anh thuộc quy hoạch cây xanh.

Ông Nhật Anh hỏi, vậy gia đình ông có được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất lần đầu với đất ở như biên lai thu thuế hay không (nếu có, đề nghị hướng dẫn các thủ tục cần thực hiện)?

Khi nhà nước thực hiện dự án, gia đình ông có được đền bù theo giá đất ở (như biên lai thu thuế đất hằng năm thu từ đất ở) hay không?

Cục Quản lý đất đai, Bộ Nông nghiệp và Môi trường trả lời vấn đề này như sau:

Về xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, do nội dung phản ánh trong đơn của ông chưa làm rõ về nguồn gốc, quá trình quản lý, sử dụng của thửa đất; chưa cung cấp các tài liệu có liên quan đến thửa đất (như hồ sơ địa chính, tài liệu giao đất, đo đạc, đăng ký đất đai,...). Do đó, Cục Quản lý đất đai không có đủ cơ sở để trả lời cụ thể, trên cơ sở nội dung phản ánh, Cục Quản lý đất đai nêu nguyên tắc pháp lý chung để ông đối chiếu, liên hệ với cơ quan có thẩm quyền tại địa phương giải quyết theo quy định, cụ thể:

Việc xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất lần đầu phải được cơ quan có thẩm quyền tại địa phương kiểm tra, xác minh cụ thể về quá trình quản lý, sử dụng, hiện trạng trên thực địa, đối chiếu hồ sơ hiện có và qua các thời kỳ để phân loại từng trường hợp áp dụng theo quy định tại Điều 137 đối với đất có giấy tờ; Điều 138 đối với đất không có giấy tờ, không vi phạm pháp luật đất đai và không được giao không đúng thẩm quyền; Điều 139 đối với đất có vi phạm; Điều 140 đối với đất được giao không đúng thẩm quyền.

Nếu thuộc trường hợp được giao không đúng thẩm quyền và sử dụng ổn định từ năm 2010 thì đối chiếu khoản 3 Điều 140.

Đồng thời, kiểm tra các trường hợp không cấp Giấy chứng nhận tại Điều 151 Luật Đất đai năm 2024.

Về yếu tố quy hoạch trong việc xem xét cấp Giấy chứng nhận, pháp luật đất đai hiện hành không quy định "phù hợp quy hoạch" là điều kiện bắt buộc áp dụng đối với tất cả các trường hợp cấp Giấy chứng nhận lần đầu.

Việc áp dụng điều kiện về quy hoạch phải căn cứ vào từng trường hợp cụ thể quy định tại các Điều 137, 138, 139 và 140 Luật Đất đai năm 2024.

Trong đó, điều kiện về sự phù hợp với quy hoạch sử dụng đất, quy hoạch xây dựng hoặc quy hoạch đô thị chỉ bắt buộc áp dụng đối với một số trường hợp nhất định được quy định rõ tại điểm a khoản 3 Điều 139 (đối với đất có vi phạm) và các khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 140 (đối với đất được giao không đúng thẩm quyền).

Xác định loại đất và tính bồi thường đối với đất chưa có sổ

Tại Điều 95 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"Điều 95. Điều kiện được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng

1. Các trường hợp được bồi thường về đất khi Nhà nước thu hồi đất vì mục đích quốc phòng, an ninh; phát triển kinh tế - xã hội vì lợi ích quốc gia, công cộng bao gồm:

a) Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không phải là đất thuê trả tiền thuê đất hằng năm;

b) Cộng đồng dân cư đang sử dụng đất có công trình là chùa, đình, đền, miếu, am, nhà thờ họ, công trình tín ngưỡng khác; đất nông nghiệp quy định tại khoản 4 Điều 178 của Luật này và đất đó không có tranh chấp, được Ủy ban nhân dân cấp xã nơi có đất xác nhận là đất sử dụng chung cho cộng đồng;

c) Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài quy định tại khoản 1 Điều 44 của Luật này;

d) Tổ chức tôn giáo, tổ chức tôn giáo trực thuộc được Nhà nước cho phép hoạt động đang sử dụng đất mà không phải là đất do Nhà nước giao, cho thuê; không phải là đất nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho từ ngày 01 tháng 7 năm 2004 trở về sau;

đ) Người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong khu công nghiệp, cụm công nghiệp, khu công nghệ cao, khu kinh tế;

e) Tổ chức được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê; nhận thừa kế quyền sử dụng đất, nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất;

g) Tổ chức nước ngoài có chức năng ngoại giao được Nhà nước cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê;

h) Tổ chức kinh tế, người gốc Việt Nam định cư ở nước ngoài, tổ chức kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài được Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất để thực hiện dự án đầu tư xây dựng nhà ở để bán hoặc để bán kết hợp cho thuê; cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê.

2. Các trường hợp quy định tại khoản 1 Điều này được bồi thường về đất khi có một trong các điều kiện sau đây:

a) Có Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất hoặc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

b) Có quyết định giao đất hoặc quyết định cho thuê đất hoặc quyết định cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền;

c) Có một trong các giấy tờ về quyền sử dụng đất làm căn cứ để cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất theo quy định tại Điều 137 của Luật này;

d) Nhận chuyển quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật từ người có quyền sử dụng đất hợp pháp nhưng chưa hoàn thành thủ tục đăng ký đất đai;

đ) Được sử dụng đất theo thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp để xử lý nợ; văn bản công nhận kết quả đấu giá quyền sử dụng đất mà người trúng đấu giá đã hoàn thành nghĩa vụ tài chính theo quy định của pháp luật.

3. Chính phủ quy định trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất".

Tại khoản 6 Điều 3 Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội quy định:

"Điều 3. Quy định về thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ, tái định cư

6. Giá đất tính tiền bồi thường về đất quy định tại khoản 2 Điều 91 của Luật Đất đai và giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư quy định tại khoản 3 Điều 111 của Luật Đất đai được tính theo giá đất trong bảng giá đất và hệ số điều chỉnh giá đất quy định tại Nghị quyết này.

Trường hợp bồi thường bằng đất ở tại chỗ mà giá đất tại vị trí được bồi thường chưa có trong bảng giá đất thì cơ quan, người có thẩm quyền căn cứ vào giá đất trong bảng giá đất tại vị trí tương tự để quyết định giá đất tính tiền sử dụng đất tại nơi tái định cư trong phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư.

Ủy ban nhân dân cấp xã có trách nhiệm báo cáo Ủy ban nhân dân cấp tỉnh để trình Hội đồng nhân dân cấp tỉnh bổ sung vào bảng giá đất tại kỳ họp gần nhất".

Tại khoản 1, khoản 2 Điều 5 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ (được sửa đổi, bổ sung theo quy định tại khoản 3 Điều 11 Nghị định số 49/2026/NĐ-CP ngày 31/1/2026 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn một số điều của Nghị quyết số 254/2025/QH15 của Quốc hội) quy định:

"Điều 5. Các trường hợp khác được bồi thường về đất và điều kiện được bồi thường về đất quy định tại khoản 3 Điều 95 của Luật Đất đai

1. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất không có giấy tờ về quyền sử dụng đất mà đủ điều kiện cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất (sau đây gọi là Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất) theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5 và 6 Điều 138 của Luật Đất đai.

2. Hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất có vi phạm pháp luật về đất đai trước ngày 01 tháng 7 năm 2014 mà đã sử dụng đất ổn định, thuộc các trường hợp được xem xét cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định tại khoản 1, điểm a và điểm c khoản 2, khoản 3, khoản 4 Điều 139 của Luật Đất đai mà không phải đáp ứng điều kiện phù hợp với quy hoạch".

Tại Điều 10 Luật Đất đai năm 2024 quy định:

"Điều 10. Xác định loại đất

1. Việc xác định loại đất dựa trên một trong các căn cứ sau đây:

a) Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất; Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất; Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu tài sản gắn liền với đất;

b) Giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 137 của Luật này đối với trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quy định tại điểm a khoản này;

c) Quyết định giao đất, cho thuê đất, cho phép chuyển mục đích sử dụng đất của cơ quan nhà nước có thẩm quyền đối với trường hợp chưa được cấp giấy chứng nhận quy định tại điểm a khoản này.

2. Đối với trường hợp không có giấy tờ quy định tại khoản 1 Điều này và trường hợp loại đất xác định trên giấy tờ đã cấp khác với phân loại đất theo quy định của Luật này hoặc khác với hiện trạng sử dụng đất thì việc xác định loại đất thực hiện theo quy định của Chính phủ".

Tại khoản 2 Điều 4 Nghị định số 88/2024/NĐ-CP ngày 15/5/2024 của Chính phủ quy định:

"Điều 4. Bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở khi Nhà nước thu hồi đất quy định tại khoản 1 Điều 96, khoản 1 Điều 98, khoản 1 Điều 99 của Luật Đất đai

2. Người có đất thu hồi được bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở mà có chênh lệch giá trị giữa tiền bồi thường, hỗ trợ về đất với tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất khác hoặc tiền mua nhà ở thì xử lý như sau:

a) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ về đất lớn hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi được nhận phần chênh lệch;

b) Trường hợp tiền bồi thường, hỗ trợ về đất nhỏ hơn tiền sử dụng đất, tiền thuê đất phải nộp khi được giao đất, thuê đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc tiền mua nhà ở thì người có đất thu hồi phải nộp phần chênh lệch.

3. Ủy ban nhân dân cấp tỉnh căn cứ quỹ đất, quỹ nhà và tình hình thực tế tại địa phương quy định tỷ lệ quy đổi, điều kiện bồi thường bằng đất có mục đích sử dụng khác với loại đất thu hồi hoặc bằng nhà ở để bồi thường cho người có đất thu hồi quy định tại Điều này".

Đề nghị ông nghiên cứu quy định của pháp luật đất đai nêu trên để thực hiện, trường hợp còn vướng mắc thì liên hệ với cơ quan nông nghiệp và môi trường tại địa phương để được hướng dẫn, xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.


Theo baochinhphu.vn
https://baochinhphu.vn/dat-trong-quy-hoach-cay-xanh-co-duoc-cap-so-va-boi-thuong-gia-dat-o-102261105132413124.htm
Copy Link
https://baochinhphu.vn/dat-trong-quy-hoach-cay-xanh-co-duoc-cap-so-va-boi-thuong-gia-dat-o-102261105132413124.htm
x
x

Đất trong quy hoạch cây xanh, có được cấp sổ và bồi thường giá đất ở?
  • Mặc định
POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO