Bộ Giáo dục và Đào tạo đang lấy ý kiến dự thảo Thông tư Hướng dẫn công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi trên Cổng Thông tin điện tử của Bộ.
Quy định xác định tuổi, trẻ em hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non
Điều 3. Xác định tuổi và trẻ em hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non
1. Tuổi của trẻ em mầm non được tính theo năm, được xác định bằng năm khai giảng trừ năm sinh của trẻ em. Trẻ em thực hiện Chương trình giáo dục mầm non tương ứng với độ tuổi, cụ thể như sau:
a) Trẻ em 3 tuổi thực hiện Chương trình giáo dục mầm non dành cho mẫu giáo 3-4 tuổi;
b) Trẻ em 4 tuổi thực hiện Chương trình giáo dục mầm non dành cho mẫu giáo 4-5 tuổi;
c) Trẻ em 5 tuổi thực hiện Chương trình giáo dục mầm non dành cho mẫu giáo 5-6 tuổi.
2. Việc xác định trẻ em hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non theo độ tuổi, cơ sở giáo dục mầm non thực hiện theo quy định của Chương trình giáo dục mầm non hiện hành.
3. Việc xác định trẻ em từ 3 đến 6 tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non theo độ tuổi không làm phát sinh hoạt động đánh giá hoặc chuẩn đầu ra khác ngoài quy định của Chương trình giáo dục mầm non và quy định chuyên môn hiện hành.
Quy định Chương trình giáo dục mầm non
Điều 4. Thực hiện Chương trình giáo dục mầm non
1. Cơ sở giáo dục mầm non tổ chức thực hiện Chương trình giáo dục mầm non đối với trẻ em từ 3 đến 6 tuổi theo độ tuổi quy định tại khoản 1 Điều 3 Thông tư này; tổ chức các hoạt động nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và đánh giá sự phát triển của trẻ em theo quy định của Chương trình giáo dục mầm non.
2. Cơ sở giáo dục mầm non căn cứ kết quả thực hiện Chương trình giáo dục mầm non và hồ sơ chuyên môn theo quy định hiện hành để xác định, lập danh sách trẻ em từ 3 đến 6 tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non theo từng độ tuổi hằng năm theo quy định tại khoản 2 Điều 3 Thông tư này, làm cơ sở tổng hợp kết quả phổ cập giáo dục mầm non.
3. Việc xác định trẻ em từ 3 đến 6 tuổi hoàn thành Chương trình giáo dục mầm non và lập danh sách quy định tại khoản 2 Điều này sử dụng hồ sơ chuyên môn hiện có của cơ sở giáo dục mầm non, không làm phát sinh hồ sơ chuyên môn riêng.
Định mức số lượng giáo viên mầm non thực hiện phổ cập giáo dục mầm non
Điều 5. Hướng dẫn xác định điều kiện về đội ngũ
1. Định mức số lượng giáo viên mầm non thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi được xác định theo quy định hiện hành của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về định mức số lượng người làm việc.
Việc bố trí giáo viên mầm non ở mức tối đa theo quy định tại khoản 1 Điều 5 Nghị định số 277/2025/NĐ-CP được thực hiện theo định mức tương ứng với từng loại nhóm, lớp, quy mô số trẻ và các trường hợp cụ thể quy định tại văn bản của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo về định mức số lượng người làm việc.
2. Giáo viên tham gia thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi đáp ứng tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định của pháp luật về giáo dục và nhà giáo; việc xác định trình độ chuẩn được đào tạo và áp dụng đối với các trường hợp đang thực hiện lộ trình nâng trình độ chuẩn được đào tạo, trường hợp chuyển tiếp thực hiện theo quy định pháp luật hiện hành.
Cơ sở vật chất, thiết bị thực hiện phổ cập giáo dục mầm non
Điều 6. Điều kiện về cơ sở vật chất, thiết bị, đồ dùng, đồ chơi
1. Cơ sở giáo dục mầm non thực hiện phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi phải đáp ứng tiêu chuẩn cơ sở vật chất theo quy định hiện hành của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo.
2. Lớp mẫu giáo 3-4 tuổi, 4-5 tuổi và 5-6 tuổi phải có đồ dùng, đồ chơi, thiết bị dạy học theo quy định hiện hành của Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo./.
TOÀN VĂN: Dự thảo Thông tư hướng dẫn công tác phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ em từ 3 đến 6 tuổi

















