Khai thác bô xít: Bài toán bùn thải và phục hồi đất
Dự án Khai thác, tuyển quặng bô xít Cụm Nhân Cơ được đề xuất với công suất 3 triệu tấn quặng tinh/năm. Phương án xử lý bùn thải sau tuyển rửa và phục hồi đất đang được làm rõ trong quá trình xem xét, hoàn thiện dự án.

Tìm hướng xử lý bùn thải sau tuyển rửa
Dự án Khai thác, tuyển quặng bô xít Cụm Nhân Cơ được đề xuất triển khai trên địa bàn 7 xã, phường gồm: Xã Quảng Tân, Kiến Đức, Nhân Cơ, Tuy Đức, Trường Xuân, phường Nam Gia Nghĩa và Bắc Gia Nghĩa. Với quy mô khai thác lớn, địa bàn rộng, phương án khai thác, xử lý bùn thải và phục hồi đất là những nội dung đang được xem xét đồng bộ trong quá trình hoàn thiện dự án.
Theo Ban Quản lý dự án Nhà máy Alumin Nhân Cơ - Vinacomin (VNAP - PMU), trong quá trình khai thác bô xít, quặng sau khi khai thác phải qua công đoạn tuyển rửa để phân loại, nâng cao hàm lượng. Vì vậy, bên cạnh việc tổ chức khai thác, vận chuyển và chế biến, phương án xử lý chất thải phát sinh cũng cần được tính toán ngay từ khâu chuẩn bị dự án.
Dự án được đề xuất với công suất thiết kế khoảng 3 triệu tấn quặng tinh/năm, nhằm đáp ứng nhu cầu nguyên liệu cho Nhà máy Alumin Nhân Cơ. Phương án khai thác dự kiến là khai thác lộ thiên, đất đá được đưa vào các hố mỏ đã khai thác xong, kết hợp phục hồi môi trường và đóng cửa từng phần.
Trong quá trình góp ý đối với dự án, một số sở, ngành chuyên môn đề nghị tiếp tục nghiên cứu phương án khai thác, tuyển quặng theo hướng tối ưu chi phí. Đáng chú ý là đề xuất nghiên cứu phương án đổ thải khô bùn thải sau tuyển rửa vào các khu vực đã khai thác xong.

Theo ý kiến của Sở Công thương, phương án này được xem xét nhằm giảm chi phí xây dựng hồ thải, đồng thời tăng chiều dày lớp phủ phục vụ phục hồi môi trường. Tuy nhiên, đây mới là hướng nghiên cứu, chưa phải là lựa chọn chính thức. Việc áp dụng cần dựa trên đánh giá cụ thể về điều kiện kỹ thuật, đặc tính bùn thải, khả năng tiếp nhận của khu vực dự kiến đổ thải và các yêu cầu bảo vệ môi trường.
Việc gắn xử lý bùn thải với tổ chức mặt bằng khai thác đòi hỏi làm rõ vị trí tiếp nhận chất thải, tiến độ khai thác và kế hoạch hoàn nguyên. Đây là những căn cứ để đánh giá tính khả thi của phương án, bên cạnh mục tiêu giảm chi phí xây dựng hồ thải.
Hoàn nguyên đất theo tiến độ khai thác
Khai thác lộ thiên làm thay đổi địa hình và hiện trạng mặt đất tại khu vực mỏ. Do đó, phục hồi đất không chỉ là công việc thực hiện khi kết thúc dự án, mà cần được tính toán cùng tiến độ khai thác. Với phương án đưa đất đá thải vào các hố mỏ đã khai thác xong, cần làm rõ ngay từ đầu trình tự thực hiện, diện tích phục hồi theo từng giai đoạn và yêu cầu đối với lớp đất phủ.

Theo Sở Nông nghiệp và Môi trường, đơn vị đang triển khai đánh giá tác động của dự án với quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất; nhu cầu sử dụng đất, sử dụng rừng nếu có; tác động môi trường sơ bộ và các vấn đề thuộc lĩnh vực đất đai, lâm nghiệp, thủy lợi, khoáng sản. Các địa phương có liên quan cũng được đề nghị xem xét hiện trạng, nguồn gốc, mục đích sử dụng đất và sự phù hợp của dự án với quy hoạch trên địa bàn. Những nội dung này là cơ sở để cơ quan chuyên môn xem xét dự án trong mối liên hệ giữa phương án khai thác, nhu cầu sử dụng đất và yêu cầu bảo vệ môi trường. Riêng công tác hoàn nguyên cần làm rõ cách thức đưa đất đá thải vào các khu vực đã khai thác xong, phương án phục hồi mặt bằng và định hướng sử dụng đất sau đó.
Theo ông Ngô Tố Ninh, Giám đốc VNAP-PMU, phương án khai thác, xử lý bùn thải và phục hồi đất là một phần trong tổng thể dự án, quá trình chuẩn bị còn nhiều vấn đề phát sinh cần tiếp tục xem xét, giải quyết.