Bảo vệ nền tảng tư tưởng

Nghị quyết số 23 - Câu chuyện về lòng yêu nước và lợi ích quốc gia, dân tộc

Thanh Phước • 30/09/2026 15:39

Nghị quyết số 23-NQ/TW đặt trọng tâm vào đoàn kết, tôn trọng khác biệt và phát huy nguồn lực người Việt Nam ở nước ngoài. Trước những ý kiến cho rằng nghị quyết mang tư duy cũ, cần làm rõ ranh giới giữa chính kiến cá nhân và lợi ích quốc gia, dân tộc; khẳng định hòa hợp không đồng nghĩa với đồng thuận tuyệt đối, nhưng mọi đóng góp và hành vi đều phải trong khuôn khổ Hiến pháp, pháp luật và chủ quyền quốc gia.

Tôn trọng khác biệt, nhưng không đồng nhất mọi chính kiến

Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Đăng Khoa)
Tổng Bí thư Tô Lâm, Chủ tịch nước Tô Lâm đã ký ban hành Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. (Ảnh: Đăng Khoa)

Thời gian qua, một số tổ chức, trang thông tin ở nước ngoài đăng tải các bài viết bày tỏ quan điểm hoài nghi về Nghị quyết số 23-NQ/TW ngày 02/8/2026 của Bộ Chính trị về công tác người Việt Nam ở nước ngoài. Các lập luận này thừa nhận một số nội dung đáng chú ý của nghị quyết nhưng đồng thời cũng cho rằng phía sau những khái niệm mới như “nguồn lực chiến lược”, “vai trò chủ thể”, “sức mạnh mềm” hay “hệ sinh thái kết nối” vẫn là tư duy cũ, trong đó Nhà nước đứng ở trung tâm, phân loại cộng đồng và lựa chọn những lực lượng “tích cực” để tập hợp, huy động.

Đáng chú ý, một lập luận được đưa ra rằng: “Một người Việt có thể mong đất nước hùng mạnh nhưng phản đối chế độ một đảng…”. Xét ở góc độ tình cảm và tâm lý, một người hoàn toàn có thể yêu quê hương, mong muốn đất nước phát triển nhưng đồng thời có quan điểm phê phán đối với một chính sách hoặc mô hình tổ chức nhà nước. Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa quyền có chính kiến của một cá nhân với tính phù hợp của quan điểm đó trong khuôn khổ chính trị - pháp lý của một quốc gia.

Nghị quyết số 23 không yêu cầu người Việt Nam ở nước ngoài phải đồng thuận với Đảng, Nhà nước mới được coi là người Việt Nam. Nghị quyết khẳng định kiều bào là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, tôn trọng và lắng nghe cả những ý kiến khác biệt nếu không phương hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc. Tuy nhiên, cần phân biệt quyền có chính kiến với mức độ phù hợp của quan điểm đó với khuôn khổ chính trị, pháp lý của Việt Nam. Vì vậy, việc không đồng thuận với chính quyền không làm mất đi tư cách người Việt Nam, nhưng khi một người tuyên bố “phản đối chế độ một đảng”, đó không còn đơn thuần là phê phán một chính sách cụ thể mà là một quan điểm chính trị liên quan trực tiếp đến mô hình tổ chức quyền lực nhà nước được Hiến pháp xác lập. Do đó, việc sử dụng câu “một người Việt có thể mong đất nước hùng mạnh nhưng phản đối chế độ một đảng” để chứng minh rằng Nghị quyết số 23 không tôn trọng sự khác biệt là chưa đủ sức thuyết phục. Vấn đề cốt lõi không phải là có được khác biệt hay không, mà là sự khác biệt đến đâu, được thể hiện bằng phương thức nào và có tác động như thế nào đến lợi ích quốc gia, dân tộc.

Đại biểu dự Hội nghị Người Việt Nam ở người ngoài toàn thế giới lần thứ IV. (Ảnh: Tuấn Minh)
Đại biểu dự Hội nghị Người Việt Nam ở người ngoài toàn thế giới lần thứ IV. (Ảnh: Tuấn Minh)

Từ vận động, tập hợp đến đồng hành, kiến tạo nguồn lực

“Gác lại quá khứ” không đồng nghĩa với xóa bỏ mọi khác biệt chính trị, mà nhằm vượt qua những chia rẽ do chiến tranh để tăng cường đoàn kết dân tộc. Nghị quyết số 23 không yêu cầu mỗi người từ bỏ ký ức hay quan điểm riêng; ngược lại, tinh thần hòa hợp thể hiện ở việc mở rộng hợp tác với mọi người Việt Nam có thiện chí đóng góp cho đất nước, dù họ có hoàn cảnh lịch sử hay quan điểm chính trị khác nhau. Tuy nhiên, hòa hợp không có nghĩa là phủ nhận bất đồng chính trị hay buộc Nhà nước phải xem mọi quan điểm là tương đồng. Nhà nước vẫn có trách nhiệm bảo vệ nền tảng hiến định, lợi ích quốc gia, dân tộc và chủ quyền quốc gia.

Một điểm quan trọng của Nghị quyết số 23 là cách tiếp cận đối với cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài đã được mở rộng. Nghị quyết xác định hơn 6,5 triệu người Việt Nam ở hơn 130 quốc gia và vùng lãnh thổ là bộ phận không tách rời của cộng đồng dân tộc Việt Nam, điểm mới đáng chú ý là sự chuyển tiếp từ “vận động, tập hợp, chăm lo” sang “đồng hành, kiến tạo cơ chế, huy động nguồn lực”. Người Việt Nam ở nước ngoài không chỉ được nhìn nhận như những người ở xa Tổ quốc cần hướng về quê hương mà còn là những chủ thể có năng lực, tri thức, mạng lưới xã hội và vị thế quốc tế có thể trực tiếp tham gia vào quá trình phát triển đất nước. Nguồn lực được đề cập không chỉ là vốn hay kiều hối mà còn bao gồm trí thức, nhà khoa học, chuyên gia, doanh nhân, văn nghệ sĩ và thế hệ trẻ; phát huy vai trò trong khoa học, công nghệ, giáo dục, y tế, văn hóa, đổi mới sáng tạo và kết nối quốc tế.

Tuy nhiên, cần phân biệt rõ giữa chính kiến chính trị và hành vi vi phạm pháp luật. Một người có quyền bày tỏ quan điểm cá nhân, kể cả không đồng tình với mô hình chính trị hiện hành. Nhưng khi quan điểm được chuyển hóa thành hành vi vi phạm pháp luật, xâm phạm an ninh quốc gia, kích động bạo lực, phá hoại quan hệ đối ngoại hoặc gây tổn hại đến lợi ích quốc gia, dân tộc thì việc đánh giá phải dựa trên tính chất, mức độ và hậu quả của hành vi, chứ không thể chỉ đặt câu hỏi người đó có “yêu Việt Nam” hay không.

Ở chiều ngược lại, hòa hợp dân tộc không thể được hiểu là buộc mọi người phải có cùng một tiếng nói. Một cộng đồng người Việt Nam ở nước ngoài rộng lớn và đa dạng tất yếu sẽ tồn tại những khác biệt về hoàn cảnh, trải nghiệm lịch sử và quan điểm chính trị. Điều quan trọng là tạo ra đủ không gian để những khác biệt ấy được thể hiện và trao đổi một cách hòa bình, không biến thành thù địch, chia rẽ hay đối đầu kéo dài. Theo nghĩa đó, quan niệm rằng hòa giải chỉ thực sự có ý nghĩa khi một dân tộc “đủ sức chứa những tiếng nói khác nhau mà vẫn nhận ra nhau là đồng bào” có thể được xem là phù hợp với tinh thần hòa hợp, đoàn kết mà Nghị quyết số 23 hướng tới.

Vì vậy, vấn đề cốt lõi của Nghị quyết số 23 không phải là kiều bào có được phép khác biệt hay không, mà là làm thế nào để nguyên tắc tôn trọng, lắng nghe những quan điểm khác biệt được cụ thể hóa thành cơ chế minh bạch, hiệu quả; thể hiện qua đối thoại, bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp, thu hút trí thức, thế hệ trẻ và tạo điều kiện để kiều bào đóng góp, thay vì bị ràng buộc bởi những chia rẽ của quá khứ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng các đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. (Ảnh: TTXVN)
Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm và phu nhân cùng các đại biểu cấp cao Việt Nam đã gặp gỡ cán bộ, nhân viên Đại sứ quán và đại diện cộng đồng người Việt Nam tại Pháp. (Ảnh: TTXVN)

Hòa hợp dân tộc, năng lực lắng nghe và bản lĩnh quốc gia

“

Nghị quyết số 23-NQ/TW là bước phát triển mới trong tư duy về công tác người Việt Nam ở nước ngoài, nhất là phát huy nguồn lực trí thức, chuyên gia, doanh nhân, nhà khoa học và thế hệ trẻ.

Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm (phát biểu tại các cuộc gặp cộng đồng người Việt Nam tại Pháp và Hoa Kỳ tháng 9/2026)

Trước sự khác biệt về thế hệ, hoàn cảnh và cách nhìn lịch sử, Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm nhắc lại chân lý của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, đồng thời kêu gọi “khép lại quá khứ, cùng chung tay kiến tạo tương lai dân tộc”, trân trọng mọi đóng góp của kiều bào, dù trực tiếp hay từ xa.

Có thể khẳng định, yêu Việt Nam không bắt buộc một người phải đồng ý với mọi chính sách của Nhà nước, nhưng cũng không trao cho bất kỳ cá nhân hay tổ chức nào quyền đứng trên Hiến pháp, pháp luật và lợi ích quốc gia, dân tộc. Giữa hai thái cực “phải đồng thuận tuyệt đối” và “mọi quan điểm đều mặc nhiên chính đáng”, Nghị quyết số 23 lựa chọn cách tiếp cận cân bằng hơn: tôn trọng sự khác biệt, mở rộng đoàn kết, khuyến khích đóng góp nhưng vẫn giữ nguyên tắc về chủ quyền, lợi ích quốc gia, dân tộc và pháp luật.

    Nghị quyết số 23 - Câu chuyện về lòng yêu nước và lợi ích quốc gia, dân tộc
    • Mặc định
    POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO