Nhan đề tác phẩm
Đời người ai cũng có những ngày cắp sách đến trường, rồi chứng kiến ngày hè chia tay thầy cô, bạn bè, trường lớp, hết hè tựu trường gặp lại, nhưng cũng có những cuộc chia tay để lớp bụi thời gian phủ mờ năm tháng, khi trở về cảnh vật đã đổi thay. Lúc ấy chắc không ít người nhớ đến bài thơ Bươm bướm ngày xưa của Nguyễn Bính.

Bươm bướm ngày xưa in trong tập Hương cố nhân, tập thơ thứ ba của ông, do Directeur Nguyễn Bá Đỉnh - Á Châu cục phát hành, 1941. Sau tuyển in lại trong Nước giếng thơi, Nhà xuất bản (NXB) Hội Nhà văn, 1957, đổi lại nhan đề là Trường huyện. Nhan đề của một tác phẩm có nhiều cách đặt theo dụng ý của tác giả. Nó đóng vai trò quan trọng như cánh cửa đầu tiên mở ra định hướng cảm xúc người đọc đi vào khám phá thế giới nội dung nghệ thuật tác phẩm. Nhan đề có khi bao hàm ý nghĩa tư tưởng mà tác giả gửi gắm. Có khi căn cứ theo chủ đề, hoặc sử dụng hình ảnh biểu tượng mang ý nghĩa triết lý nhân sinh, có khi lấy tên nhân vật… cùng với cách sử dụng từ ngữ gợi nhiều tầng ý nghĩa. Nhan đề Bươm bướm ngày xưa gợi nhiều trường liên tưởng và nâng tầm cảm hứng chất thơ, khi đổi thành Trường huyện, làm chuyển hướng người đọc về cảm nhận nội dung tác phẩm.
Hình tượng bướm mang biểu tượng văn hóa đi vào huyền thoại của nhiều dân tộc trên thế giới. Bướm trong thần thoại Hy Lạp có ý nghĩa linh hồn qua bao thử thách để thành bất tử. Con bướm trong giấc mộng Trang Chu là triết lý “vật ngã lưỡng vong”, xóa bỏ ranh giới giữa người và vật, khát vọng linh hồn tự do thoát khỏi sự rào cản hữu hạn của thân xác. Hình ảnh bươm bướm trong văn chương Việt Nam cũng mang biểu tượng đa nghĩa, không chỉ dừng lại ở loài côn trùng có cánh, mà khi được “mã văn hóa” nó mang đậm dấu ấn tâm hồn người Việt. Trong thơ Nguyễn Bính, hình ảnh con bướm xuất hiện nhiều lần, ở nhiều tần suất khác nhau, phần lớn mang nỗi buồn cô đơn và sự dang dở. Trong Cô hàng xóm, bướm không đơn thuần là côn trùng, nó còn là một tha nhân có hồn, làm cầu nối tình duyên, biết tâm sự, sẻ chia vui buồn với chủ thể: “Bướm ơi! Bướm hãy vào đây!/ Cho tôi hỏi nhỏ câu này chút thôi...”. Trong bài Bóng bướm là nỗi khắc khoải tình yêu vô định cách xa: “Anh đi đèn sách mười niên/ Biết rằng bóng bướm có lên kinh thành”. Nó biết cảm nhận cả chuyển biến đổi thay không gian: “Giữa lúc nắng không tươi đẹp nữa/ Hoa không buồn thắm, bướm không bay” (Cầu nguyện)…
Nên khi đặt nhan đề Bươm bướm ngày xưa hướng người đọc cách cảm nhận khác hơn với nhan đề Trường huyện. Dẫu bài thơ đã hai lần sử dụng từ trường huyện, nhưng để chỉ về một không gian rất chung trong ký ức. “Học trò trường huyện ngày năm ấy, / Anh tuổi bằng em, lớp tuổi thơ”. Từ hoài niệm, một quá khứ hiện về: “Những buổi học về không có nón, / Đội đầu chung một lá sen tơ. / Lá sen vương vấn hương sen ngát, / Ấp ủ hai ta, chút nhuỵ hờ. / Lũ bướm tưởng hoa cài mái tóc, / Theo về tận cổng mới tan mơ”. Hình ảnh “lũ bướm” ở đây là một biểu tượng giao hòa tinh tế giữa thiên nhiên và tâm hồn con người. Khi “lá sen tơ” thay chiếc nón đội đầu, hương sen như thấm vào kẽ tóc, thiên nhiên và con người hầu tan chảy vào nhau, không còn ranh giới, làm cho sự nhầm lẫn của lũ bướm lại mang đầy ý vị chất thơ, cũng là nét đẹp “hương đồng gió nội” trong thơ Nguyễn Bính, tượng trưng cho vẻ tinh khôi ở lứa tuổi đẹp nhất cuộc đời. Cái cảm xúc lãng mạn đó theo bước chân họ đi “về tận cổng mới tan mơ”. Chính chi tiết lũ bướm đã nâng khoảnh khắc thực tại lên thành cõi mơ, cái khoảnh khắc thực - mộng đẹp đẽ đó là sự rung động trong trẻo đầu đời cứ luôn vấn vương, lưu luyến trong ký ức. Còn đặt nhan đề Trường huyện, vùng thẩm mỹ và trường liên tưởng tác phẩm được “quy hoạch” lại, chuyển nội dung mang tính triết luận về quy luật tình cảm. Tuy nhiên, khi gắn với biểu tượng bươm bướm nó cũng gợi lên cảm xúc trắng trong của tuổi học trò. Dẫu ở trường liên tưởng nào thì động thái “theo về tận cửa mới tan mơ”, được hay mất, cũng đều có chung hương vị ngọt ngào trong hoài niệm.
Để kết thúc, tác giả dùng thủ pháp “đối chiếu tâm trạng”, hình ảnh bướm thể hiện sự đối lập xưa và nay, lúc đã chia xa với bao thay đổi: “Em đi, phố huyện tiêu điều lắm, / Trường huyện giờ xây kiểu khác rồi. / Mà đến hôm nay anh mới biết, / Tình anh như chuyện bướm xưa thôi!”. Đoạn thơ trước, hình ảnh “lũ bướm” là biểu tượng sự hồn nhiên, trong trẻo với những rung động đầu đời, hình ảnh bướm đoạn cuối trở thành hoài niệm, mang sắc thái “di sản ký ức”, “chuyện bướm xưa” trở thành xa xăm, ảo mờ, như một mảnh vỡ thời gian, một biểu tượng về sự mất mát, tuy buồn mà đẹp. Đó là khoảnh khắc kỷ niệm đầy chất thơ của tuổi học trò mấy ai trong đời không cùng giao cảm.