Cơ chế cho nông nghiệp hữu cơ
Từ thực tế hoạt động sản xuất - kinh doanh của các mô hình nông nghiệp đang thực hiện chuyển đổi phương thức “ưu tiên sản lượng” sang “gia tăng giá trị, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường” cho thấy, chỉ khi thiết lập được cơ chế chính sách hỗ trợ đúng mới tạo ra động lực cho nông dân mạnh dạn đầu tư để tái cơ cấu sản xuất.

Trong bối cảnh thị trường thế giới, nhất là thị trường các quốc gia ở châu Âu, càng ngày càng soi kỹ yếu tố bảo vệ môi trường của các nền sản xuất nông nghiệp, việc phát triển nông nghiệp hữu cơ là một hướng đi tất yếu. Nền nông nghiệp Lâm Đồng được định hướng phát triển theo hướng nâng cao chất lượng nông sản, gia tăng giá trị kinh tế trên một đơn vị diện tích, gắn sản xuất với bảo vệ môi trường, kết hợp phát triển du lịch nông nghiệp.
Nhiều sản phẩm nông sản của các mô hình nông nghiệp xanh, nông nghiệp hữu cơ, nông nghiệp tuần hoàn trên địa bàn tỉnh thời gian qua đã tạo dựng được chỗ đứng vững chắc trên thị trường nông sản. Những mô hình này, không chỉ tạo nguồn thu nhập cho nông dân từ việc bán nông sản, mà còn góp phần phát triển du lịch tại địa phương thông qua các hoạt động trải nghiệm nông nghiệp, giáo dục ngoại khóa, lưu trú, ẩm thực...
Theo chị Ka Nhụy - một hộ trồng cà phê hữu cơ ở xã Bảo Lâm 3, nông nghiệp hữu cơ đang là bước chuyển quan trọng xuất phát từ chính nhu cầu của người sản xuất, cũng như nhu cầu của người tiêu dùng. “Nếu như trước đây sức cạnh tranh của nông nghiệp được quyết định bởi sản lượng và giá thành thì nay sức cạnh tranh của nông nghiệp lại nằm ở khả năng tạo ra sản phẩm an toàn, đáp ứng những tiêu chuẩn bảo vệ môi trường, giảm chất thải và phát thải. Đó là lý do tôi kiên định với hướng đi sản xuất nông nghiệp hữu cơ”, chị Ka Nhụy chia sẻ.
Ông Nguyễn Bá Khánh - một hộ trồng ca cao hữu cơ ở xã Cát Tiên 2 tâm sự: “Nông nghiệp hữu cơ đòi hỏi phải kiểm soát chặt chẽ ở nhiều khâu, từ đất, nước, giống đến vật tư, quy trình canh tác, thu hoạch, sơ chế, chế biến và tiêu thụ. Quá trình này thường kéo dài và phát sinh nhiều chi phí. Nếu không có sự hỗ trợ của Nhà nước - hỗ trợ bằng các cơ chế chính sách phù hợp, những nông hộ sản xuất nhỏ rất khó để duy trì mô hình nông nghiệp hữu cơ”.
Nhiều chuyên gia nông nghiệp cho rằng, cơ chế chính sách hỗ trợ phát triển nông nghiệp hữu cơ cần được nhìn nhận như một hệ thống những giải pháp kinh tế - xã hội - môi trường. Nhà nước có thể hỗ trợ các hộ sản xuất nông nghiệp hữu cơ xây dựng hệ thống nhận diện, truy xuất nguồn gốc, cơ sở dữ liệu sản phẩm hữu cơ, bên cạnh việc tăng cường kiểm soát gian lận thương mại.

Thay vì chú trọng hỗ trợ ở khâu đầu vào (giống, vật tư, máy móc, kinh phí sản xuất...), Nhà nước cần quan tâm tạo điều kiện để hình thành thị trường sản phẩm hữu cơ, giúp người tiêu dùng nhận biết sản phẩm đạt chuẩn hữu cơ, qua đó tạo động lực cho doanh nghiệp đầu tư chế biến và phân phối, hợp tác xã tổ chức tốt việc liên kết các nông hộ sản xuất nông sản hữu cơ, nông hộ thì bán được sản phẩm với mức giá tương xứng với chi phí và công sức đầu tư.
Một khi hình thành được chuỗi giá trị nông sản hữu cơ, người nông dân thấy rõ lợi ích kinh tế, doanh nghiệp và hợp tác xã có lợi khi đầu tư, người tiêu dùng có niềm tin sản phẩm an toàn, tự khắc môi trường được bảo vệ, sức cạnh tranh của nông sản hữu cơ cũng nhờ đó mà nâng cao sức mạnh.