Giá vàng chiều nay 22/11/2025: Giá vàng SJC, giá vàng nhẫn, bảng giá vàng hôm nay chi tiết
Giá vàng SJC chính thức vượt mốc 150 triệu đồng/lượng. Các thương hiệu lớn đồng loạt điều chỉnh tăng 500-700 nghìn, lấy lại đỉnh sau phiên giảm hôm qua.
Giá vàng SJC chấm dứt đà suy yếu, vượt qua đỉnh 150 triệu đồng
Tính đến 17h00 ngày 22/11/2025, giá vàng SJC "quay xe" chấm dứt đà giảm, hiện đã lấy lại được đỉnh 150 triệu đồng/lượng. Ở tất cả thương hiệu lớn trong nước đều điều chỉnh giá mua bán tăng hơn nửa triệu đồng/lượng, kéo giá vàng SJC lên ngưỡng 147,9 - 150,4 triệu đồng/lượng.
Giá vàng miếng SJC quay đầu lấy lại 600 nghìn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra sau đợt giảm mạnh hôm qua. Hiện giá vàng mua vào lấy lại đỉnh 148,4 triệu đồng/lượng và giá bán ra giữ mức 150,4 triệu đồng/lượng.

Tập đoàn DOJI cũng theo xu hướng tăng lấy lại đỉnh trên toàn khu vực, giá vàng ở chiều mua vào tăng 600 nghìn đồng lên mức 147,8 triệu đồng/lượng. Giá vàng ở chiều bán ra tăng lên mức 150,4 triệu đồng/lượng, cao hơn ngày hôm qua 600 nghìn đồng.
Trong khi đó, hệ thống Mi Hồng tiếp tục giữ đỉnh giá cao trong phiên hồi phục hôm nay. Hiện niêm yết giá vàng chiều mua vào ở mức 149,2 triệu đồng/lượng, tăng mạnh 700 nghìn đồng. Giá bán ra ở mức 150,4 triệu đồng/lượng, tăng thêm 600 nghìn đồng.
Giá vàng miếng PNJ ghi nhận giá vàng miếng SJC chiều mua vào tăng lên mức 148,4 triệu đồng/lượng, cao hơn phiên hôm qua 600 nghìn đồng. Giá vàng chiều bán ra tăng lên mức 150,4 triệu đồng/lượng, cao hơn ngày hôm qua 600 nghìn đồng.
Tại Bảo Tín Minh Châu, công bố tăng thêm 600 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra. Hiện giá vàng chiều mua vào tăng lên mức 148,9 triệu đồng/lượng, giá vàng chiều bán ra ở mức 150,4 triệu đồng/lượng.
Cuối cùng, tại hệ thống Phú Quý đang có mức tăng hơn 1 triệu đồng. Giá vàng miếng chiều mua vào niêm yết ở mức 147,9 triệu, ghi nhận tăng thêm 1,1 triệu đồng/lượng. Giá vàng miếng chiều bán ra niêm yết ở mức 150,4 triệu đồng/lượng, cao hơn phiên trước 600 nghìn đồng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 23/11/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 148,4 | 150,4 | - | - |
| Tập đoàn DOJI | 148,4 | 150,4 | - | - |
| Mi Hồng | 149,2 | 150,4 | - | - |
| PNJ | 148,4 | 150,4 | - | - |
| Bảo Tín Minh Châu | 148,9 | 150,4 | - | - |
| Phú Quý | 147,9 | 150,4 | - | - |
Giá vàng nhẫn 9999 có mức tăng giảm chiều khác nhau tại các thương hiệu
Cùng lúc đó, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 146,1 triệu đồng/lượng (mua) và 149,1 triệu đồng/lượng (bán), giảm 100 nghìn đồng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn có mức giá mua vào là 147,6 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở 150,6 triệu đồng/lượng, ghi nhận tăng 600 nghìn đồng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên trước, chênh lệch giữa hai chiều mua – bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 147,0 triệu đồng/lượng (mua) và 150,0 triệu đồng/lượng (bán), tăng 500 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, chênh lệch mua – bán ổn định ở mức 3 triệu đồng/lượng.
| 1. DOJI - Cập nhật: 22/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| AVPL/SJC HCM | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| AVPL/SJC ĐN | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 22/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Hà Nội - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Đà Nẵng - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Miền Tây - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Tây Nguyên - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| 3. AJC - Cập nhật: 22/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 14,840 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| Miếng SJC Nghệ An | 14,840 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| Miếng SJC Thái Bình | 14,840 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 14,740 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 14,740 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 14,740 ▲60K | 15,040 ▲60K |
| NL 99.99 | 14,040 ▲60K | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 14,040 ▲60K | - |
| Trang sức 99.9 | 14,300 ▲60K | 14,930 ▲60K |
| Trang sức 99.99 | 14,310 ▲60K | 14,940 ▲60K |
| 4. SJC - Cập nhật: 22/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 148.400 ▲600K | 150.400 ▲600K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 148.400 ▲600K | 150.420 ▲600K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 148.400 ▲600K | 150.430 ▲600K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 146.000 ▲600K | 148.500 ▲600K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 146.000 ▲600K | 148.600 ▲600K |
| Nữ trang 99,99% | 144.500 ▲600K | 147.500 ▲600K |
| Nữ trang 99% | 141.539 ▲584K | 146.039 ▲584K |
| Nữ trang 68% | 92.960 ▲408K | 100.460 ▲408K |
| Nữ trang 41,7% | 54.163 ▲250K | 61.663 ▲250K |
Giá vàng thế giới giữ vững ở mức 4.064,2 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h00 ngày 22/11/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.064,2 USD/ounce. Ghi nhận giảm thêm 12,2 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.392 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 129,46 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (148,4-150,4 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 20,94 triệu.

Giá vàng thế giới gần như đi ngang trong phiên thứ Sáu, sau cú giảm hơn 1% hồi đầu ngày, khi thị trường gia tăng kỳ vọng Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ hạ lãi suất vào tháng 12 nhờ những phát biểu mang sắc thái “bồ câu” từ các quan chức ngân hàng trung ương.
Tính đến 01:48 chiều ET, vàng giao ngay giữ ở mức 4.086,57 USD/ounce, hồi phục nhẹ sau nhịp giảm sâu trước đó và đang hướng tới mức tăng khiêm tốn 0,1% trong tuần. Hợp đồng vàng tương lai giao tháng 12 cũng khép phiên với mức tăng 0,5%, lên 4.079,5 USD/ounce.
Phát biểu của Chủ tịch Fed New York John Williams cho rằng việc cắt giảm lãi suất trong ngắn hạn vẫn có thể được cân nhắc mà không làm tổn hại mục tiêu kiểm soát lạm phát – lập tức trở thành “liều thuốc bổ” cho những nhà đầu tư đặt cược vào vàng. Chuyên gia Jim Wyckoff từ Kitco Metals nhận định bình luận này đã tiếp thêm “đạn dược” cho phe mua ngay từ đầu phiên.
Ngay trong ngày, xác suất Fed hạ lãi suất tại cuộc họp kế tiếp tăng vọt lên 74%, so với 40% chỉ vài giờ trước đó.
Bản báo cáo việc làm Mỹ công bố trễ hơn thường lệ mang đến bức tranh không mấy đồng nhất: số việc làm phi nông nghiệp tăng 119.000, vượt xa dự báo, nhưng tỷ lệ thất nghiệp lại leo lên mức cao nhất bốn năm. Trong bối cảnh lãi suất thấp vốn là “mảnh đất màu mỡ” cho tài sản không sinh lợi như vàng, mọi dữ kiện mới đều được nhà đầu tư theo dõi sát sao.
Dù vậy, không phải quan chức Fed nào cũng nghiêng về phía nới lỏng. Chủ tịch Fed Dallas Lorie Logan tiếp tục giữ quan điểm cứng rắn, cho rằng lãi suất nên được duy trì ổn định “trong một thời gian”.
Trên thị trường chứng khoán, giới giao dịch đang quan sát từng chuyển động vì nếu Phố Wall tăng mạnh, tâm lý ưa rủi ro sẽ lấn át dòng tiền tìm đến vàng – yếu tố có thể tạo áp lực giảm giá cho kim loại quý.
Cuối phiên, chứng khoán Mỹ đồng loạt tăng điểm khi kỳ vọng cắt giảm lãi suất được củng cố. Trái lại, nhu cầu vàng vật chất tại nhiều thị trường châu Á vẫn khá trầm lắng trong tuần này, do biến động lãi suất khiến người mua dè dặt.
Ở các kim loại quý khác, bạc giao ngay giảm 0,4% còn 50,39 USD/ounce, trong khi bạch kim tăng nhẹ 0,1% lên 1.512,67 USD, và palladium nhích 0,2% lên 1.380 USD.