Giá vàng chiều nay 29/11/2025: Giá vàng SJC, giá vàng nhẫn, bảng giá vàng hôm nay chi tiết
Giá vàng SJC chốt đỉnh mới 154,9 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn chỉ trong ngày. Vàng nhẫn cũng vượt 154 triệu, thế giới lao lên 4.218 USD/ounce.
Chuỗi tăng kéo dài, chốt ở đỉnh 154,9 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h00 ngày 29/11/2025, giá vàng SJC ghi nhận tăng mạnh, tiến sát đỉnh 155 triệu đồng/lượng, ở tất cả các thương hiệu lớn đang có mức giá mua bán tăng tiếp gần triệu đồng/lượng.
Cụ thể, vàng miếng SJC ghi nhận mức giá mua vào đạt 152,9 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra được niêm yết ở 154,9 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng so với phiên trước. Khoảng cách giữa giá mua và bán duy trì ở mức 2 triệu đồng.

Tương tự, Tập đoàn DOJI cũng không đứng ngoài đà tăng chung của thị trường. Giá vàng mua vào được nâng lên 151,4 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng, trong khi giá bán ra cũng tăng tương ứng lên mức 153,4 triệu đồng/lượng. Khoảng cách giữa hai chiều giá vẫn giữ ở mức 2 triệu đồng.
Hệ thống Mi Hồng cũng ghi nhận sự tăng giá tương tự, với mức mua vào được niêm yết ở 153 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng so với phiên trước. Giá bán ra của Mi Hồng đạt 154,9 triệu đồng/lượng, chênh lệch giữa giá mua và bán là 1,9 triệu đồng.
Ở thương hiệu PNJ, giá vàng miếng được công bố với mức mua vào là 151,4 triệu đồng/lượng và bán ra là 153,4 triệu đồng/lượng, giữ nguyên khoảng cách 2 triệu đồng giữa hai chiều giá.
Bảo Tín Minh Châu hiện có giá mua vào cao nhất trong số các thương hiệu, đạt 153,4 triệu đồng/lượng. Giá bán ra của vàng miếng SJC tại đây vẫn giữ vững ở mức 154,9 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng ở cả hai chiều mua và bán so với phiên trước.
Cuối cùng, hệ thống Phú Quý cũng điều chỉnh tăng giá, với giá mua vào đạt 151,9 triệu đồng/lượng, tăng 700 nghìn đồng so với phiên trước. Giá bán ra tại đây được niêm yết ở mức 154,9 triệu đồng/lượng, cũng tăng tương tự.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 29/11/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 152,9 | 154,9 | +700 | +700 |
| Tập đoàn DOJI | 152,9 | 154,9 | +700 | +700 |
| Mi Hồng | 153,0 | 154,9 | +700 | +700 |
| PNJ | 152,9 | 154,9 | +700 | +700 |
| Bảo Tín Minh Châu | 153,4 | 154,9 | +700 | +700 |
| Phú Quý | 151,9 | 154,9 | +700 | +700 |
Giá vàng nhẫn 9999 cũng vượt đỉnh 154 triệu đồng/lượng
Cùng thời điểm lúc 17h00, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 151,0 triệu đồng/lượng (mua) và 154,0 triệu đồng/lượng (bán), tăng thêm 1,2 triệu đồng/lượng mới ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn có mức giá mua vào là 151,3 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở 154,3 triệu đồng/lượng, đồng loạt tăng 1 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên trước, chênh lệch giữa hai chiều mua – bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 150,9 triệu đồng/lượng (mua) và 153,9 triệu đồng/lượng (bán), tăng 900 nghìn đồng/lượng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, chênh lệch mua – bán ổn định ở mức 3 triệu đồng/lượng.
| 1. DOJI - Cập nhật: 29/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| AVPL/SJC HCM | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| AVPL/SJC ĐN | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 29/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Hà Nội - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Đà Nẵng - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Miền Tây - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Tây Nguyên - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| 3. AJC - Cập nhật: 29/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 15,290 ▲70K | 15,490 ▲70K |
| Miếng SJC Nghệ An | 15,290 ▲70K | 15,490 ▲70K |
| Miếng SJC Thái Bình | 15,290 ▲70K | 15,490 ▲70K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 15,100 ▲100K | 15,400 ▲100K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 15,100 ▲100K | 15,400 ▲100K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 15,100 ▲100K | 15,400 ▲100K |
| NL 99.99 | 14,220 ▲100K | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 14,220 ▲100K | - |
| Trang sức 99.9 | 14,690 ▲100K | 15,290 ▲100K |
| Trang sức 99.99 | 14,700 ▲100K | 15,300 ▲100K |
| 4. SJC - Cập nhật: 29/11/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 152.900 ▲700K | 154.900 ▲700K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 152.900 ▲700K | 154.920 ▲700K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 152.900 ▲700K | 154.930 ▲700K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 150.600 ▲1200K | 153.100 ▲1200K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 150.600 ▲1200K | 153.200 ▲1200K |
| Nữ trang 99,99% | 149.100 ▲1200K | 152.100 ▲1200K |
| Nữ trang 99% | 146.094 ▲1188K | 150.594 ▲1188K |
| Nữ trang 68% | 96.088 ▲816K | 103.588 ▲816K |
| Nữ trang 41,7% | 56.082 ▲500K | 63.082 ▲500K |
Giá vàng thế giới chốt đỉnh 4.200 USD/Ounce
Tính đến 17h00 ngày 29/11/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.218,4 USD/ounce. Ghi nhận tăng mạnh 62,6 USD/ounce so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.412 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 134,23 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (152,9-154,9 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 20,67 triệu.

Phiên giao dịch hôm nay chứng kiến giá vàng giao ngay bứt phá mạnh mẽ, tăng khoảng 1% và đạt đỉnh cao nhất trong vòng hai tuần, khi kỳ vọng về việc Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) sẽ bắt đầu hạ lãi suất vào tháng tới ngày càng lớn mạnh. Sức hấp dẫn của vàng – tài sản không sinh lời nhưng được xem là nơi trú ẩn an toàn – được củng cố rõ rệt, trong khi bạc cũng ghi nhận mức tăng kỷ lục mới.
Tính đến 15h11 theo giờ EST, giá vàng giao ngay đã tăng 1,3%, lên mức 4.210,94 USD mỗi ounce, từng chạm ngưỡng cao nhất kể từ ngày 13/11. Với đà tăng này, kim loại quý đang hướng tới mức tăng 3,6% trong tuần và hơn 5% trong tháng, đánh dấu tháng tăng giá thứ tư liên tiếp – một chuỗi thành tích ấn tượng.
Không kém cạnh, bạc cũng tạo nên cơn sốt khi vọt lên mức kỷ lục 56,78 USD mỗi ounce, tăng tới 6,1% chỉ trong một phiên và cộng dồn mức tăng 16,6% kể từ đầu tháng. Sự bứt phá mạnh mẽ của bạc thu hút sự chú ý lớn từ giới đầu tư.
Trước đó, thị trường hợp đồng tương lai đã phải tạm ngừng giao dịch nhiều giờ do sự cố kỹ thuật tại CME Group, ảnh hưởng đến nhiều loại hợp đồng từ ngoại hối, hàng hóa đến chứng khoán. Khi giao dịch được nối lại vào khoảng 8:30 sáng EST, hợp đồng vàng giao tháng 2 đã đóng cửa với mức tăng 1,3%, đạt 4.254,9 USD mỗi ounce.
Theo nhận định của Bart Melek, Giám đốc chiến lược hàng hóa tại TD Securities, sự chậm lại kéo dài của nền kinh tế Mỹ đến năm 2026 làm gia tăng khả năng Fed sẽ sớm nới lỏng chính sách tiền tệ. Điều này đang khiến dòng tiền đổ mạnh trở lại thị trường vàng, bởi vàng thường hưởng lợi khi lãi suất giảm do chi phí cơ hội nắm giữ thấp hơn.
Những phát biểu gần đây mang tính “mềm mỏng” của các quan chức Fed như Christopher Waller và John Williams, cùng với chuỗi dữ liệu kinh tế kém khả quan sau đợt đóng cửa chính phủ, càng làm tăng niềm tin rằng Fed sẽ hạ lãi suất trong tháng 12. Xác suất giảm lãi suất theo thị trường hiện đã vọt lên 87%, so với mức 50% chỉ một tuần trước đó.
Trong khi đó, Jim Wyckoff từ Kitco Metals nhận định diễn biến kỹ thuật của bạc đang chuyển sang xu hướng tích cực, kích thích nhà đầu tư và giới đầu cơ đẩy mạnh mua vào.
Tuy nhiên, nhu cầu vàng vật chất tại các thị trường châu Á lại có phần ảm đạm. Giá vàng cao khiến người tiêu dùng thận trọng dù mùa cưới ở Ấn Độ đang bắt đầu. Ở Trung Quốc, chính sách thuế mới cũng khiến hoạt động mua vàng trở nên dè dặt hơn.
Ngoài ra, các kim loại quý khác cũng có diễn biến tích cực. Bạch kim tăng 4%, lên 1.672,50 USD mỗi ounce, hướng đến tuần tăng hơn 10%. Palladium cũng ghi nhận mức tăng nhẹ 0,8%, đạt 1.450,16 USD, với tổng mức tăng 5,6% trong tuần qua.