Giá vàng chiều nay 30/12/2025: Giá vàng SJC, giá vàng nhẫn, bảng giá vàng đầu tuần chi tiết
Giá vàng trong nước lao dốc mạnh cuối ngày 30/12, khi vàng SJC và vàng nhẫn 9999 đồng loạt giảm từ 3–4 triệu đồng/lượng, nới rộng chênh lệch với thế giới.
Giá vàng SJC và vàng 9999 chốt phiên chiều nay bằng đợt giảm sâu hơn 3 triệu đồng/lượng
Tính đến 17h00 ngày 30/12, thị trường vàng trong nước chứng kiến cú điều chỉnh mạnh khi giá vàng SJC đồng loạt giảm sâu, thổi bay hơn 3 triệu đồng/lượng so với phiên đầu tuần. Đà giảm xuất hiện trên diện rộng, kéo giá vàng tại các thương hiệu lớn rơi nhanh về vùng thấp mới.
Tại Công ty SJC, giá vàng miếng trong chiều nay giảm mạnh ở cả hai chiều. Giá mua vào lùi xuống 152,7 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra hạ còn 154,7 triệu đồng/lượng, cùng giảm 3,3 triệu đồng so với phiên trước đó.

Diễn biến tương tự cũng ghi nhận tại Tập đoàn DOJI. Giá vàng miếng SJC tại đây đồng loạt mất 3,3 triệu đồng/lượng, kéo giá mua vào về 152,7 triệu đồng/lượng và giá bán ra xuống còn 154,7 triệu đồng/lượng.
Tại Mi Hồng, giá mua vào ghi nhận mức sụt giảm mạnh nhất, hiện chỉ còn 153,5 triệu đồng/lượng, thấp hơn đỉnh cũ 3,3 triệu đồng. Giá bán ra cũng điều chỉnh mạnh, lùi về 154,7 triệu đồng/lượng, cũng giảm đi 3,3 triệu đồng.
Ở PNJ, giá vàng SJC sáng 30/12 cũng không nằm ngoài xu hướng chung. Giá mua vào rơi xuống 152,7 triệu đồng/lượng, trong khi giá bán ra giảm về 154,7 triệu đồng/lượng. Cả hai chiều đều giảm mạnh 3,3 triệu đồng so với mức kỷ lục ghi nhận cuối tuần qua.
Bảo Tín Minh Châu cập nhật giá vàng miếng SJC lúc 17h00 ở mức 152,7 triệu đồng/lượng chiều mua vào và 154,7 triệu đồng/lượng chiều bán ra. So với đầu tuần, mức giá này đã giảm tổng cộng 3,3 triệu đồng/lượng, cho thấy đà điều chỉnh vẫn đang chiếm ưu thế.
Trong khi đó, tại Phú Quý, giá vàng miếng SJC ghi nhận mức mua vào thấp nhất thị trường, chỉ còn 151,7 triệu đồng/lượng. Giá bán ra được niêm yết ở 154,7 triệu đồng/lượng. So với phiên trước, cả hai chiều tại Phú Quý đều giảm mạnh 3,3 triệu đồng/lượng.
| Giá vàng hôm nay | Ngày 30/12/2025 (Triệu đồng) | Chênh lệch (nghìn đồng/lượng) | ||
| Mua vào | Bán ra | Mua vào | Bán ra | |
| SJC | 152,7 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| Tập đoàn DOJI | 152,7 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| Mi Hồng | 153,5 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| PNJ | 152,7 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| Bảo Tín Minh Châu | 152,7 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| Phú Quý | 151,7 | 154,7 | -3300 | -3300 |
| 1. DOJI - Cập nhật: 30/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| AVPL/SJC HN | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| AVPL/SJC HCM | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| AVPL/SJC ĐN | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| 2. PNJ - Cập nhật: 30/12/2025 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Khu vực | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| TPHCM - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Hà Nội - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Đà Nẵng - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Miền Tây - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Tây Nguyên - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Đông Nam Bộ - PNJ | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| 3. AJC - Cập nhật: 30/12/2025 17:00 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Miếng SJC Hà Nội | 15,270 ▼330K | 15,470 ▼330K |
| Miếng SJC Nghệ An | 15,270 ▼330K | 15,470 ▼330K |
| Miếng SJC Thái Bình | 15,270 ▼330K | 15,470 ▼330K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng H.Nội | 15,200 ▼300K | 15,500 ▼300K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng N.An | 15,200 ▼300K | 15,500 ▼300K |
| N.Tròn, 3A, Đ.Vàng T.Bình | 15,200 ▼300K | 15,500 ▼300K |
| NL 99.99 | 14,480 ▼300K | - |
| Nhẫn tròn ko ép vỉ T.Bình | 14,480 ▼300K | - |
| Trang sức 99.9 | 14,790 ▼300K | 15,390 ▼300K |
| Trang sức 99.99 | 14,800 ▼300K | 15,400 ▼300K |
| 4. SJC - Cập nhật: 30/12/2025 17:30 - Thời gian website nguồn cung cấp - ▼/▲ So với ngày hôm qua. | ||
| Loại | Mua vào | Bán ra |
|---|---|---|
| Vàng SJC 1L, 10L, 1KG | 152.700 ▼3300K | 154.700 ▼3300K |
| Vàng SJC 5 chỉ | 152.700 ▼3300K | 154.720 ▼3300K |
| Vàng SJC 0.5 chỉ, 1 chỉ, 2 chỉ | 152.700 ▼3300K | 154.730 ▼3300K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 1 chỉ, 2 chỉ, 5 chỉ | 147.800 ▼3300K | 150.800 ▼3300K |
| Vàng nhẫn SJC 99,99% 0.5 chỉ, 0.3 chỉ | 147.800 ▼3300K | 150.900 ▼3300K |
| Nữ trang 99,99% | 145.800 ▼3300K | 149.300 ▼3300K |
| Nữ trang 99% | 142.321 ▼3267K | 147.821 ▼3267K |
| Nữ trang 68% | 93.184 ▼2244K | 101.684 ▼2244K |
| Nữ trang 41,7% | 53.914 ▼1376K | 62.414 ▼1376K |
Giá vàng nhẫn 9999 tiếp tục lao dốc, giảm tới tận 4 triệu đồng
Cùng thời điểm lúc 17h00, giá vàng nhẫn tròn 9999 Hưng Thịnh Vượng của DOJI được niêm yết ở mức 150,0 triệu đồng/lượng (mua) và 153,0 triệu đồng/lượng (bán), hiện giảm mạnh tới 4 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, với mức chênh lệch 3 triệu đồng/lượng.
Bảo Tín Minh Châu giữ giá vàng nhẫn có mức giá mua vào là 152,5 triệu đồng/lượng, giá bán ra ở 155,5 triệu đồng/lượng, đồng loạt giảm đi 3 triệu đồng/lượng ở cả 2 chiều mua vào và bán ra so với phiên trước, chênh lệch giữa hai chiều mua – bán tiếp tục ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Tập đoàn Phú Quý cũng niêm yết giá vàng nhẫn ở mức 151,0 triệu đồng/lượng (mua) và 154,0 triệu đồng/lượng (bán), đều giảm mạnh 3 triệu đồng ở cả 2 chiều mua và bán so với ngày hôm qua, chênh lệch mua – bán ổn định ở mức 3 triệu đồng/lượng.
Giá vàng thế giới hồi phục lại gần 1% sau đợt giảm 5% đầu tuần
Tính đến 17h00 ngày 29/12/2025 (giờ Việt Nam), giá vàng thế giới giao ngay mức 4.372,4 USD/ounce. Ghi nhận hồi phục lại 41,0 USD/ounce tương đương 0,95% so với ngày hôm qua. Quy đổi theo tỷ giá USD tại ngân hàng Vietcombank (26.381 VND/USD), vàng thế giới có giá khoảng 143,4 triệu đồng/lượng (chưa tính thuế, phí). So sánh với giá vàng miếng SJC trong nước cùng ngày (152,7-154,7 triệu đồng/lượng), giá vàng SJC hiện cao hơn giá vàng quốc tế khoảng 15,6 triệu.

Giá vàng thế giới bật tăng trở lại trong phiên giao dịch ngày thứ Ba, sau khi chạm đáy thấp nhất gần hai tuần ở phiên trước đó. Động lực chính đến từ việc lực mua phòng thủ quay lại thị trường, khi hoạt động chốt lời ngắn hạn đã phần nào hạ nhiệt.
Cụ thể, vàng giao ngay tăng khoảng 1%, lên mức 4.374,76 USD/ounce vào sáng cùng ngày (giờ GMT). Trước đó, kim loại quý này vừa trải qua phiên giảm mạnh nhất trong hơn hai tháng, lùi sâu từ đỉnh kỷ lục thiết lập hôm thứ Sáu xuống mức thấp nhất kể từ ngày 17/12. Cùng xu hướng, hợp đồng vàng tương lai của Mỹ giao tháng 2 cũng tăng hơn 1%, giao dịch quanh 4.391,30 USD/ounce.
Theo các chuyên gia, nhịp điều chỉnh mạnh vừa qua chủ yếu mang tính kỹ thuật. Ông Zain Vawda, chuyên gia phân tích tại MarketPulse by OANDA, cho rằng đợt bán tháo trước đó phản ánh hoạt động chốt lời và tái cơ cấu danh mục trước thềm năm mới. Khi các yếu tố nền tảng như đồng USD suy yếu và rủi ro địa chính trị vẫn hiện hữu, dòng tiền nhiều khả năng sẽ tiếp tục tìm đến vàng.
Tính từ đầu năm đến nay, giá vàng đã tăng tới 66% – mức tăng mạnh nhất kể từ năm 1979. Đà leo dốc này được hậu thuẫn bởi chính sách tiền tệ nới lỏng, căng thẳng địa chính trị kéo dài, nhu cầu mua vào của các ngân hàng trung ương và dòng vốn đổ mạnh vào các quỹ ETF vàng.
Thị trường hiện đang dồn sự chú ý vào biên bản cuộc họp tháng 12 của Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed), dự kiến công bố trong ngày. Tài liệu này được kỳ vọng sẽ hé lộ những bất đồng nội bộ về định hướng chính sách tiền tệ trong năm tới. Giới đầu tư hiện đang đặt cược Fed sẽ có hai đợt cắt giảm lãi suất, môi trường vốn thường mang lại lợi thế cho các tài sản không sinh lãi như vàng.
Ở diễn biến khác, căng thẳng địa chính trị tiếp tục phủ bóng lên thị trường khi Nga cáo buộc Ukraine tìm cách tấn công nơi ở của Tổng thống Vladimir Putin và tuyên bố sẽ có biện pháp đáp trả, làm suy giảm kỳ vọng về một thỏa thuận hòa bình.
Không chỉ vàng, thị trường kim loại quý nói chung cũng khởi sắc. Bạc giao ngay tăng mạnh 3,3%, lên 74,61 USD/ounce, sau khi vừa trải qua phiên giảm sâu nhất kể từ tháng 8/2020. Trước đó, bạc đã lập đỉnh lịch sử mới ở mức 83,62 USD/ounce. Tính chung cả năm, giá bạc đã tăng tới 159%, nhờ được đưa vào danh sách khoáng sản quan trọng của Mỹ, tình trạng thiếu hụt nguồn cung và nhu cầu công nghiệp lẫn đầu tư gia tăng.
Theo ông Vawda, để duy trì xu hướng tích cực, vàng cần củng cố vị thế trên ngưỡng tâm lý 4.000 USD/ounce, trong khi bạc phải giữ vững mốc 50 USD/ounce trước khi hướng tới việc chinh phục lại vùng 80 USD.
Bạch kim cũng ghi nhận mức tăng ấn tượng 3,5%, lên 2.182,30 USD/ounce, dù vừa lao dốc mạnh sau khi chạm đỉnh kỷ lục mới trong phiên trước. Palladium tăng nhẹ 1% lên 1.632,56 USD/ounce, sau cú sụt giảm tới 16% vào ngày thứ Hai.