Luật Phát triển công nghiệp văn hoá: Tạo động lực mới cho phát triển kinh tế
Luật Phát triển công nghiệp văn hoá sẽ thúc đẩy kết nối chuỗi giá trị để các ngành công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá, đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng GDP, nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam.

Trong tháng Tám này, Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch sẽ xin ý kiến các Bộ, ngành, địa phương, chuyên gia đóng góp ý kiến cho dự thảo Luật Phát triển công nghiệp văn hóa.
Sau đó, đơn vị này trình Chính phủ xem xét dự thảo trong đầu tháng Chín, trình Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét trong tháng Chín và trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 2 (tháng 10/2026).
Theo thông tin từ Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch, sau 6 tháng triển khai Nghị quyết số 80-NQ/TW ngày 07/01/2026 của Bộ Chính trị về phát triển văn hóa Việt Nam, nhận thức và hành động của các cấp, các ngành, địa phương chuyển biến tích cực; xây dựng, hoàn thiện thể chế đạt kết quả bước đầu. Tuy nhiên, việc tổ chức thực hiện còn hạn chế, bất cập, đặc biệt là 4 “khoảng trống” mà Tổng Bí thư, Chủ tịch nước Tô Lâm đã chỉ ra.
Theo Thứ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch Nguyễn Huy Dũng, sau hơn 12 năm thực hiện Chiến lược phát triển các ngành công nghiệp văn hoá, tỷ trọng đóng góp của lĩnh vực này vào GDP giai đoạn 2018–2025 chỉ đạt khoảng 4-5%. Con số này còn khoảng cách khá xa so với mục tiêu tối thiểu 7% theo Nghị quyết 80.

Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống pháp luật hiện hành mới tập trung vào quản lý nhà nước theo từng lĩnh vực chuyên ngành, thiếu một đạo luật mang tính kiến tạo để kết nối toàn bộ chuỗi giá trị của công nghiệp văn hoá, từ sáng tạo, bảo hộ quyền sở hữu trí tuệ, huy động vốn, sản xuất, phân phối đến thương mại hóa và tái đầu tư. Vì vậy, việc ban hành Luật là yêu cầu cấp thiết nhằm tạo động lực mới cho tăng trưởng kinh tế và nâng cao sức mạnh mềm quốc gia.
Dự thảo Luật tập trung vào ba mục tiêu cốt lõi: Xác lập địa vị pháp lý chính thức cho công nghiệp văn hóa trong cơ cấu ngành kinh tế Việt Nam; Kết nối chuỗi giá trị để thúc đẩy ngành công nghiệp văn hoá Việt Nam phát triển đột phá về mặt giá trị kinh tế, tăng cường xuất khẩu, thu hút FDI chiến lược, chiếm tỷ trọng tối thiểu 7% GDP hàng năm càng sớm càng tốt, thay vì chờ đến năm 2030; Đồng thời, lan tỏa bản sắc văn hóa, thương hiệu và sức mạnh mềm Việt Nam ra thế giới.

Về phương pháp xây dựng, dự thảo Luật dựa trên nguyên tắc không chồng chéo với các luật chuyên ngành và không phát sinh thủ tục hành chính. Luật chỉ tập trung xử lý các "điểm mờ," "khoảng trống" và "điểm nghẽn" của hệ thống pháp luật hiện hành, đồng thời phân cấp cho Chính phủ hướng dẫn cụ thể.
Theo dự thảo, ngành công nghiệp văn hóa Việt Nam bao gồm 10 lĩnh vực trọng tâm: Điện ảnh; Mỹ thuật, Nhiếp ảnh-Triển lãm; Nghệ thuật biểu diễn; Phần mềm-Trò chơi giải trí; Quảng cáo; Thủ công mỹ nghệ; Du lịch văn hóa; Thiết kế sáng tạo; Phát thanh-Truyền hình và Xuất bản.
Thứ trưởng Nguyễn Huy Dũng nhấn mạnh tinh thần xuyên suốt của dự thảo Luật là "chuyển bản sắc văn hoá thành tài sản trí tuệ, chuyển tài sản trí tuệ thành dòng tiền tạo ra giá trị kinh tế."
Theo đó, dự thảo đề xuất 5 nhóm chính sách lớn: Tài sản trí tuệ trong các ngành công nghiệp văn hoá là yếu tố đột phá, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng; Hạ tầng công nghiệp văn hoá là yếu tố nền tảng, vừa là tiền đề, vừa là cơ sở cho phát triển bền vững; Nhân lực và nhân tài công nghiệp văn hoá là yếu tố cốt lõi, đóng vai trò trung tâm; Thị trường công nghiệp văn hoá là yếu tố then chốt, mang tính quyết định đối với thành công; Thu hút đầu tư nước ngoài là yếu tố xúc tác, giúp nâng cao năng lực trong nước và tiếp cận thị trường quốc tế.

Bộ trưởng Lâm Thị Phương Thanh đề nghị Ban Soạn thảo cùng các đơn vị liên quan xác định rõ địa vị pháp lý và vị trí của ngành công nghiệp văn hóa trong cơ cấu kinh tế Việt Nam, làm cơ sở định hình bộ khung thể chế, chính sách cần bổ sung, hoàn thiện.
Trên cơ sở đó, Luật phải thúc đẩy kết nối chuỗi giá trị để các ngành công nghiệp văn hóa phát triển bứt phá, đóng góp hiệu quả vào tăng trưởng GDP; đồng thời lan tỏa bản sắc văn hóa, xây dựng thương hiệu quốc gia và nâng cao sức mạnh mềm Việt Nam trên trường quốc tế, tạo đà phát triển nhanh và bền vững trong tiến trình hội nhập.
Bộ trưởng nhấn mạnh Ban Soạn thảo tiếp tục rà soát, làm rõ các nhóm chính sách. Trong đó, nhóm tài sản trí tuệ và bản quyền cần làm rõ bản chất của sản phẩm văn hóa và vấn đề bản quyền - đây là cốt lõi để công nghiệp văn hóa đi xa.
Với nhóm thị trường và doanh nghiệp, cần có chính sách thúc đẩy doanh nghiệp dẫn dắt/chủ lực làm hạt nhân, thay vì chỉ có các cá nhân sáng tạo đơn lẻ.
Trong khi đó, nhóm tài chính, thuế, đất đai, đầu tư (gồm FDI) cần nêu rõ vấn đề để kiến nghị cơ chế ưu đãi phù hợp (thuế, nuôi dưỡng nguồn thu, đất đai...), chấp nhận lộ trình và cấp độ văn bản (Luật, Nghị định, Thông tư).