Những nét chữ đầu tiên trên phiến đá
Cuộc gặp với Chủ tịch Hồ Chí Minh năm 1967 đã đưa người chiến sĩ trẻ Nguyễn Văn Tuân vào một hành trình học tập liên tục: từ lớp học bằng than củi trên phiến đá rừng đến vị trí Đại tá, Chủ nhiệm Khoa Hậu cần - Kỹ thuật, Học viện Lục quân. Một cuộc đời đi qua hai chiến tranh, nhưng khi về già, điều ông nhớ nhất lại là một bữa cơm trưa và câu nói giản dị của Bác Hồ về sự học.

Một lời hứa bắt đầu từ bữa cơm với Bác
Con hẻm nhỏ trên đường Hoa Sứ, phường Cầu Kiệu, TP Hồ Chí Minh vẫn bình yên như bao khu dân cư khác. Nhưng bước qua cánh cửa ngôi nhà của Đại tá Nguyễn Văn Tuân, điều gây ấn tượng đầu tiên không phải là những tấm bằng khen, huân chương hay những bức ảnh thời quân ngũ. Ở vị trí trang trọng nhất là bàn thờ Chủ tịch Hồ Chí Minh, được bài trí giản dị trong “Không gian văn hóa Hồ Chí Minh” do chính gia đình ông xây dựng. Mỗi sáng, trước khi bắt đầu một ngày mới, người cựu chiến binh tóc đã bạc trắng đều lặng lẽ thắp một nén hương trước chân dung Bác. Đã ngoài tám mươi tuổi, tóc bạc trắng, ông đứng lặng trước di ảnh khá lâu. Khi chúng tôi hỏi vì sao lại lập bàn thờ riêng như vậy, ông chậm rãi nói, giọng Quảng Nam vẫn đặc sánh, trầm ấm: “Bởi tình cảm bữa cơm trưa với Bác năm 1967, tôi không bao giờ quên được. Cả đời tôi, có Bác mới có tôi ngày hôm nay”.
Ông bảo, người ta thường nhớ về những chặng đường mình đi qua bằng chức vụ hay quân hàm. Còn ông, điều ám ảnh và nhắc nhở ông mỗi ngày lại là câu nói của Bác Hồ khi biết ông chưa từng được đi học: “Mai về để nó ở lại, tôi cho đi học. Trẻ thế mà không học”.
Lời căn dặn ấy không chỉ đưa cậu bé giao liên thất học ra miền Bắc học văn hóa, mà định hình nên tính cách của Nguyễn Văn Tuân suốt hơn nửa thế kỷ sau đó. Trong ngôi nhà của vị Đại tá già, người ta hiếm khi nghe ông nhắc về những huân chương hay vị trí Chủ nhiệm Khoa Hậu cần - Kỹ thuật của Học viện Lục quân. Nhắc đến ông là nhắc đến một hành trình kỳ lạ: từ gánh cá mưu sinh trên trảng cát nóng đến lớp học bằng than củi nơi chiến khu, và một lời hứa âm thầm thực hiện suốt cả đời người.
“Nhà nghèo, chỉ có cát chứ không có ruộng...”
Năm 1954, sau Hiệp định Giơnevơ, xã Bình Sa, huyện Thăng Bình, tỉnh Quảng Nam (nay là xã Thăng Trường, TP Đà Nẵng) chìm trong những đợt càn quét khủng bố của chính quyền Ngô Đình Diệm. Thân phụ ông - một cán bộ cách mạng hoạt động từ năm 1942 - cùng người mẹ lần lượt bị địch bắt giam. Căn nhà tranh xiêu vẹo giữa vùng cát trắng chỉ còn lại năm anh em nương tựa vào nhau. Nguyễn Văn Tuân là anh lớn, khi đó mới 9 tuổi. Đứa em út vừa tròn sáu tháng tuổi. “Quê tôi chỉ có trảng cát chứ làm chi có ruộng. Cha mẹ đi tù hết rồi, tôi là anh lớn, phải tìm cách nuôi em”, ông bồi hồi nhớ lại.
Mới 9 tuổi, Tuân bắt đầu gánh cá đi bán. Cậu theo những người phụ nữ trong làng có chồng đi tập kết ra Bắc xuống bãi biển mua cá tươi, quải hai cái gióng ngắn trên vai, đi bộ qua các trảng cát nóng rát sang chợ Bình Trung, Bình Triều, chợ Được, có đợt đón xe ra tận Đà Nẵng buôn bán.
Ở nhà, người em gái mới 7 tuổi đảm nhận việc bế đứa em út 6 tháng. Không có sữa, hai anh em chắt nước cơm hòa chút đường đút từng thìa nuôi em qua ngày. Cậu em năm tuổi đi chăn bò thuê, đứa ba tuổi ngơ ngác ngồi trước hiên nhà chờ anh gánh cá về. “Cứ mỗi bận bán cá về, thấy mấy anh em quây quần bên nồi nước cơm đang sôi chờ anh là tôi mừng rơi nước mắt. Cả nhà nhường nhau từng hớp nước cơm pha đường, vậy mà sống qua ngày”, ông chùng giọng.
Chính những tháng ngày gánh cá đi khắp các xóm làng đã khiến cậu bé chín tuổi thuộc từng lối rạch, thuộc mặt từng người trong vùng. Sự cẩn trọng và điềm tĩnh của Tuân lọt vào mắt các cán bộ hoạt động bí mật. Ban đầu, các chú nhờ cậu chuyển vài tin nhắn miệng, mang mẩu giấy nhỏ. Đến tháng 12 năm 1959, khi 16 tuổi, ông chính thức được giao làm liên lạc cho cơ sở cách mạng vùng Đông Thăng Bình.
Nhưng Tuân hoàn toàn không biết chữ. Mỗi lần nhận tài liệu, mật thư, ông không thể đọc tên người nhận. Cán bộ phải giao ước bằng nét gạch: người này một gạch, người kia hai gạch, địa điểm khác ba gạch. Cứ thế, ông ghi nhớ bằng đầu, đi qua các trạm kiểm soát của địch mà không làm lộ một địa chỉ.
Năm 1960, cơ sở bị lộ, hai cán bộ phụ trách bị địch bắt. Tuân cũng bị bắt đi thẩm tra vì nghi vấn liên quan đến cách mạng. Trong tờ giấy chứng nhận quá trình hoạt động cách mạng lập năm 1987 do ông Phan Thanh Toàn - nguyên Bí thư Huyện ủy Thăng Bình - ký, còn ghi lại một chi tiết đắt giá: “Tháng 4/1960, cơ sở bị lộ, đồng chí Tuân bị bắt nghi vấn nhưng chưa đủ tuổi thành niên nên được tha”. Ra khỏi nhà tù địch, cậu thiếu niên lại lập tức tìm cách bắt liên lạc với tổ chức để tiếp tục hoạt động.

“Lớp học” than củi và bữa cơm trưa năm 1967
Cuối năm 1959, phong trào ở vùng Đông bị đàn áp mạnh, các cán bộ phải rút lên căn cứ miền núi để bám dân, bám đất. Tuân đi theo các chú vào rừng, vừa làm liên lạc, vừa kiếm củi, nấu cơm phục vụ căn cứ.
Ở chiến khu, mỗi khi công việc tạm lắng, các cán bộ lại nhặt những mẩu than còn sót trong bếp, tìm một phiến đá phẳng rồi cầm tay Tuân tập viết từng chữ cái, từng vần. Không có bảng, không có phấn, càng không có sách vở. Phiến đá là trang giấy, mẩu than là cây bút đầu tiên của cậu bé chưa từng một ngày đến lớp. Đại tá Nguyễn Văn Tuân nhớ lại: “Các chú dạy tôi từng chữ một. Tôi học ngấu nghiến. Đến khi lần đầu tự mình đọc được những dòng chữ trên mẩu giấy mật thư, sướng run cả người”.
Từ những mẩu than củi trên đá, Tuân bắt đầu đọc sách, đọc báo và làm công tác liên lạc hiệu quả hơn. Bằng sự kiên trung, ông lần lượt đảm nhiệm công tác tại Ban Kinh tài xã Bình Sa, Ban Kinh tài huyện Thăng Bình và vinh dự được kết nạp vào Đảng Lao động Việt Nam năm 1965 khi mới 22 tuổi.
Năm 1967, ông được cử ra miền Bắc học tập. Trong buổi gặp đoàn cán bộ miền Nam sau chuyến công tác nước ngoài trở về, Bác Hồ ân cần hỏi chuyện từng người. Biết chàng thanh niên Quảng Nam đã là đảng viên nhưng chưa từng được đến trường, chỉ biết chữ nhờ than củi viết trên phiến đá, Bác Hồ lặng đi khá lâu. Người quay sang các đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Huỳnh Tấn Phát, Nguyễn Thị Bình rồi nói: “Mai về để nó ở lại, tôi cho đi học. Trẻ thế mà không học”.
Sau buổi gặp, ông còn được giữ lại ăn cơm trưa với Bác. Bữa cơm đơn sơ nhưng tình thương của Bác đã trở thành điểm tựa tinh thần theo ông suốt cả cuộc đời. Giọng ông chùng xuống khi nhắc lại: “Hơn nửa thế kỷ rồi, nhưng bữa cơm ấy tôi không quên được. Bác gắp thức ăn cho tôi, dặn dò như một người cha dặn con. Tình cảm đó không có gì so sánh được”.
Thực hiện lời Bác, ông lao vào học tập với một quyết tâm sắt đá. Người thanh niên chưa từng học lớp một đã hoàn thành toàn bộ chương trình phổ thông từ lớp 1 đến lớp 7 chỉ trong 6 tháng!
Nhờ ý chí đó, khi được cử đi học tại Trường Sĩ quan Lục quân, ông tốt nghiệp thủ khoa khóa học có 604 học viên. Do đã là cán bộ có thời gian chiến đấu gian khổ ở Mặt trận, ông là người duy nhất được trao quân hàm Trung úy ngay khi tốt nghiệp (603 học viên còn lại nhận quân hàm Thiếu úy). Tuy nhiên, vì chưa có bằng cấp III nên ông chưa đủ điều kiện nhận bằng tốt nghiệp sĩ quan. Không nản lòng, tranh thủ những buổi chiều sau giờ công tác, ông miệt mài học bổ túc văn hóa để hoàn thành chương trình cấp 3.

Từ bục giảng đến chiến trường Tây Nam
Tháng 7 năm 1974, Nguyễn Văn Tuân được điều động về công tác tại Khoa Hậu phương, Học viện Quân sự (nay là Khoa Hậu cần - Kỹ thuật, Học viện Lục quân). Trải qua 24 năm công tác tại Học viện, ông gắn bó trọn vẹn với sự nghiệp giáo dục - đào tạo cán bộ quân đội. Ông lần lượt kinh qua các chức vụ từ giảng viên, Trưởng bộ môn, Phó Chủ nhiệm Khoa đến Chủ nhiệm Khoa. Năm 1995, ông được phong quân hàm Đại tá.
Trong suốt thời gian làm giảng viên và chỉ huy Khoa, ông luôn coi bài giảng là chiến trường thứ hai. Những bài giảng về công tác hậu cần, kỹ thuật, tài chính quân sự của ông không bao giờ là lý thuyết suông mà luôn đậm đà hơi thở thực tiễn.
Năm 1980, khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới Tây Nam nổ ra ác liệt, người thầy giáo quân sự ấy lại tạm gác phấn trắng, xung phong lên đường sang Campuchia làm nhiệm vụ quốc tế. Ông đảm nhiệm cương vị Phó Chủ nhiệm Hậu cần Sư đoàn 309 (Mặt trận 479), trực tiếp tổ chức bảo đảm hậu cần chiến đấu cho các đơn vị nơi tuyến đầu. 4 năm sống chết trên đất bạn không chỉ giúp ông hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ mà còn tích lũy thêm những bài học máu thịt để khi trở về Học viện, ông truyền lại cho các thế hệ học viên.
Đồng nghiệp và học viên nhớ đến Đại tá Nguyễn Văn Tuân bởi tác phong làm việc nghiêm cẩn, tỉ mỉ và tinh thần tự học. Ông luôn nhắc nhở các giảng viên trẻ: “Người thầy quân đội trước hết phải là tấm gương về sự học. Đừng bao giờ nghĩ mình học xong là đủ. Kiến thức không cập nhật sẽ trở nên lạc hậu trên chiến trường”.
“Bây giờ làm việc theo công nghệ, mình già rồi...”
Cuối năm 1997, Đại tá Nguyễn Văn Tuân nhận quyết định nghỉ hưu. Nhưng với người lính Cụ Hồ, nghỉ hưu không có nghĩa là khép lại sự cống hiến.
Trở về sinh sống tại phường 9, TP Đà Lạt (nay là phường Lâm Viên - Đà Lạt), ông lại được tin tưởng bầu làm Phó Bí thư Đảng ủy phường, rồi Chủ tịch Hội Khuyến học phường... Người từng học chữ bằng than củi năm xưa nay lại đi gõ cửa từng nhà vận động học bổng cho học sinh nghèo, chăm lo phong trào học tập ở địa phương. Đến khi theo gia đình vào TP Hồ Chí Minh, ông lại tiếp tục gánh vác trách nhiệm Bí thư Chi bộ Khu phố 5, phường 7, quận Phú Nhuận (nay là phường Cầu Kiệu) từ năm 2012 đến tận đầu năm 2026. Với nỗ lực không ngừng nghỉ, ông nhận được nhiều bằng khen của UBND tỉnh Lâm Đồng, HĐND tỉnh Lâm Đồng, bằng khen của các cấp ủy Đảng.
Đầu năm 2026, ở tuổi 83, thấy sức khỏe giảm sút và nhận ra các yêu cầu quản lý cơ sở ngày càng đòi hỏi ứng dụng công nghệ thông tin, ông chủ động xin thôi giữ chức Bí thư Chi bộ. Ông kể lại chuyện ấy với nụ cười sảng khoái: “Tết vừa rồi họp tổng kết chi bộ, tôi phát biểu: “Bây giờ làm việc theo công nghệ rồi, tôi già rồi không học hành công nghệ được nên không làm được. Các đồng chí cho tôi nghỉ, chứ không tôi xin ra khỏi Đảng đó”. Tôi nói giỡn vậy mà các đồng chí hoảng quá, mới chịu giải quyết cho tôi nghỉ từ tết tới giờ”. Nói xong, ông cười khà khà. Nụ cười nhẹ nhõm, tự do của một người đã cống hiến trọn vẹn sức lực cho Đảng, cho dân từ năm 16 tuổi cho đến khi tóc bạc phơ.
Khi chúng tôi hỏi, nếu hôm nay được gặp lại Bác Hồ, ông sẽ nói gì, Đại tá Nguyễn Văn Tuân im lặng rất lâu. Ánh mắt người cựu chiến binh hướng về bàn thờ Bác đặt trang trọng trong căn nhà nhỏ, rồi ông chậm rãi trả lời, giọng nghẹn lại: “Tôi sẽ báo cáo với Bác: “Có Bác mà con mới trưởng thành được như ngày hôm nay. Từ một người chưa qua trường lớp nào cả, bây giờ con đã hoàn thành nhiệm vụ, con khoe với Bác...””.
Rời ngôi nhà nhỏ, chúng tôi vẫn nhớ mãi hình ảnh người Đại tá tóc đã bạc lặng lẽ đứng trước bàn thờ Bác Hồ. Hơn nửa thế kỷ đã trôi qua kể từ cuộc gặp năm 1967, những nét chữ đầu tiên trên phiến đá giữa núi rừng Quảng Nam vẫn như còn nguyên trong ký ức ông. Có lẽ, điều làm nên giá trị của một cuộc đời không chỉ là quân hàm, chức vụ hay những phần thưởng đã được trao tặng, mà còn là cách một con người bền bỉ sống và cống hiến để xứng đáng với niềm tin mà Bác Hồ đã gửi gắm năm nào.