Emagazine-Longforms

Tiểu khu 179, xã Đam Rông 2: Từ dân di cư tự do đến bản Mông giàu đẹp, hạnh phúc

Uông Thái Biểu 28/08/2026 10:35

Chúng tôi có mặt ở Tây Nguyên từ thập niên 90. Giai đoạn từ đó đến sau năm 2000, khắp miền đại ngàn phía tây Tổ quốc, nơi cư dân thưa thớt nhưng đất đai phì nhiêu, đều là “điểm nóng” của dân di cư tự do. Cư dân thiểu số miền núi phía Bắc siêng năng lao động nhưng thiếu đất sản xuất, cuộc sống nhiều vùng hết sức khó khăn. Bởi thế, họ tìm đến vùng đất Tây Nguyên mang theo niềm hi vọng đổi đời. Những người Mông di cư đến tiểu khu 179 thuộc xã Đam Rông 2 cũng trải qua cuộc hành trình như vậy…

Kỳ I Hồi ức về những ngày đầu gian khó
cover a dung bìa ảnh (1)

Khu vực trung tâm Tiểu khu 179

Bản sao của A D_Mẫu tít phụ có ảnh (10)

Thời gian qua, một số cá nhân, tổ chức người Mông lưu vong đã đưa ra những thông tin sai lệch về đời sống đồng bào Mông di cư tự do tại Tây Nguyên, trong đó có các khu dân cư ở tiểu khu 179, 181, Tây Sơn, Đạ M’pô thuộc xã Đam Rông 2. Những thông tin này phủ nhận những nỗ lực của các cấp ủy, chính quyền trong việc ổn định đời sống, sản xuất, giáo dục và an sinh xã hội cho đồng bào.

Cuối tháng 8/2026, chúng tôi trở lại tiểu khu 179, nơi những người Mông đã lập cư hơn 2 thập niên trước. Nay, khu dân cư thuộc thôn Nâm Rơ Mai có 143 hộ, 776 nhân khẩu. Những gì ghi nhận tại đây là câu chuyện thực tế về một hành trình từ gian khó đến ổn định, ấm no.

3d624f6107dd8683dfcc.jpg
Tiểu khu 179 nhìn từ trên cao
Bản sao của A D_Mẫu tít phụ có ảnh (18)

Chúng tôi có mặt ở Tây Nguyên từ thập niên 90. Giai đoạn từ đó đến sau năm 2000, khắp miền đại ngàn phía tây Tổ quốc, nơi cư dân thưa thớt nhưng đất đai phì nhiêu, đều là “điểm nóng” của dân di cư tự do. Cư dân thiểu số miền núi phía Bắc siêng năng lao động nhưng thiếu đất sản xuất, cuộc sống nhiều vùng hết sức khó khăn. Bởi thế, họ tìm đến vùng đất Tây Nguyên mang theo niềm hi vọng đổi đời. Những người Mông di cư đến tiểu khu 179 thuộc xã Đam Rông 2 cũng trải qua cuộc hành trình như vậy…

chu3.png

Từ trung tâm xã Đam Rông 2, một xã vùng sâu của tỉnh Lâm Đồng, đến đây cũng chỉ chừng 60km trên con đường xuyên rừng. Buổi sáng cuối tháng 8 này, chúng tôi ngồi bên nhau dưới mái hiên quán tạp hóa ở đầu bản Mông tiểu khu 179.

h1(1).jpg
Những chàng trai Mông buổi đầu lập bản từ 2 thập niên trước

Trò chuyện cùng tôi là 3 người đàn ông Mông trung niên Ma Seo Sênh, Giàng Seo Phơ và Mùa A Lử, chủ quán. Người đến nơi này sớm nhất là 20 năm, cũng có người đến sau. Mấy ông thay nhau kể chuyện cũ, tất cả đều có chung một vùng ký ức về những ngày đầu lập cư đất mới với những gian khó tưởng chừng không chịu nổi.

Tôi hỏi: “Sao nghĩ đến Tây Nguyên mà vào?” A Lử nói: “Hồi đó có biết Tây Nguyên ở hướng nào đâu! Quê tôi ở Xín Mần, Lào Cai, vùng cao nguyên đá. Nơi ấy đất đai ít, nguồn nước không có, cây ngô, cây lúa trồng trên đất chèn trong hốc đá không chịu được sương muối, đói khổ quanh năm. Xưa bố tôi đi bộ đội trong này, bảo đất tốt, làm ăn dễ. Thế là bán tất cả tài sản được 9 triệu, dắt díu vợ và 2 con lang thang vào đây…”.

gia-dinh-giang-seo-quang-nao-san-truoc-tup-leu-tam-bo-anh-chup-20-nam-truoc(1).jpg
Gia đình Giàng Seo Quáng nạo sắn trước túp lều tạm bợ (ảnh chụp 20 năm trước)

Tôi cười: “Đến giờ đã lấy lại được vốn chưa?” “Lấy được cả hàng ngàn lần ấy chứ!” Mùa A Lử cũng cười. Ông Giàng Seo Phơ kể thêm: “Hồi đó ở Sơn La quê tôi cũng khổ không nói hết. Đất thì bạc màu mà lại không có hệ thống thủy lợi, hạn hán thường xuyên, chỉ trông chờ vào nước trời. Tôi còn nhớ, có những đêm rất khuya thì trời đổ mưa rào, cả bản giục trâu kéo nhau ra bừa ruộng. Người và trâu mập mò trong bóng đêm. Ngày đầu mới vào Tây Nguyên cũng không khá hơn, cả một đám người lớn bé lầm lũi giữa rừng sâu. Có thời đói cả làng, rồi bệnh cả làng...”.

tro-choi-gian-di-cua-nhung-dua-tre-lang-mong.jpg
Trò chơi giản dị của những đứa trẻ làng Mông

Nhìn vào ánh mắt của Sênh, Phơ và Lử, tôi nghĩ về căn tính của tộc người họ. Người Mông là một tộc người tràn đầy khí chất, có máu phiêu lưu, sẵn sàng đặt cược số phận cho những chuyến đi xa lập nghiệp. Bởi vậy, những năm tháng ấy, họ là một trong những nhóm người “tiên phong” gồng gánh cả gia đình, dòng tộc, bản làng “hành phương Nam” bằng con đường di dân ngoài kế hoạch.

h3(2).jpg
Ông Giàng Seo Phơ (bên phải) trao đổi với tác giả rằng, ngày ấy nghèo lắm, khổ lắm...

Rời miền núi cao phía bắc với những mỏm đá tai mèo sắc nhọn, bỏ lại sau lưng những thửa ruộng bậc thang gắn bó nhiều đời, hàng chục ngàn đồng bào dân tộc Mông ở Hoàng Su Phì, Xín Mần (Hà Giang) hay Si Ma Cai, Bắc Hà, Bảo Yên (Lào Cai), Mường Lát (Thanh Hóa)… mang theo giấc mơ, xuôi đường thiên lý Bắc - Nam vào đại ngàn Tây Nguyên.

Trên hành trình di trú, gánh theo niềm hy vọng, có lẽ họ chưa từng nghĩ đến nỗi thống khổ, nhọc nhằn mà buổi đầu gặp phải trên vùng đất mới mà họ lựa chọn làm quê hương thứ hai…

a.jpg
Bản Mông những ngày đầu, tạm bợ và nghèo đói
chu4.png

Trôi theo dòng ký của những người dân Mông tôi gặp trong buổi sáng nay là ký ức của chính người viết báo hiện về từ 20 năm trước. Ngày ấy, theo đoàn công tác của Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc Giàng Seo Phử, tôi đã đến với nơi họ sống, tiểu khu 179, một lâm phần thuộc xã Liêng Srônh (nay thuộc xã Đam Rông 2).

h4(1).jpg
Tác giả (ngồi giữa) trò chuyện, hồi ức về quá khứ 20 năm trước cùng 2 ông trung niên bản Mông tiểu khu 179

Đó là ngôi làng mới mọc lên trái phép, không có tên, nằm giữa rừng sâu. Nơi có những bà mẹ, ông bố tảo hôn nhớ không hết tên của những đứa con và không biết tiếng Việt để nói tên mình. Nơi có những đứa trẻ không được học hành, ăn không đủ no, mặc không đủ ấm.

Trang nhật ký phóng viên từ 2 thập niên trước vẫn hiện lên rõ ràng: Ngày đó, chúng tôi đã gặp gia đình của Giàng A Chơ. 2 vợ chồng và 4 đứa con trú ngụ trong căn lều nứa lợp cỏ tranh chừng 12m2. Tài sản trong lều không có gì ngoài 3 cái nồi gang, 1 siêu nấu nước đã bị méo, 1 cái chậu cùng 10 cái cả bát lẫn đĩa sứt mẻ.

h5(1).jpg
Mẹ con người Mông tiểu khu 179 trên vùng quê mới những ngày đầu lập bản

Năm 2004, vợ chồng A Chơ rời quê nhà ở xã Trung Lý, huyện Mường Lát (Thanh Hóa) vào đây theo lời gợi ý của những người quen đi trước. Bữa cơm trưa của gia đình A Chơ chẳng có gì ngoài nồi cơm nhỏ, đĩa rau lang luộc chấm nước muối.

Hồi đó, A Chơ có 4 đứa con, bé Giàng Thị Dính đã 13 tuổi, đứa con trai út là Giàng A Hùng 6 tuổi nhưng chưa đứa nào từng được đến trường. Chúng nhếch nhác tội nghiệp; nắng, gió khiến mái tóc đứa nào cũng khét cháy. Bọn trẻ lấm lét nhìn người lạ, không đứa nào nói được tiếng Kinh khi mọi người hỏi chuyện.

Cạnh con suối nhỏ giữa làng, chúng tôi đã gặp 6 cô gái Mông đang trồng bắp, mồ hôi ướt đẫm lưng áo. Cạnh đấy, những đứa trẻ mới hơn 1 tuổi bò lổm ngổm dưới bóng mát cây rừng. Hỏi chuyện, cả 6 cô đều đã có chồng, có con dù mới chỉ 17 - 20 tuổi.

Bữa trưa của họ được dọn trên những tàu lá chuối với 3 bịch cơm đựng trong túi nilon, 2 túi rau rừng luộc, 1 can nước lạnh để làm canh, không có nước mắm chấm rau. Bữa cơm trưa nhà Thào A Chỉnh mà chúng tôi ghé qua cũng chỉ là một tô nước cà chua chưng lõng bõng và nồi cơm trộn bột ngô lật sật.

h6(1).jpg
Những đứa trẻ bản Mông ngày đầu lập bản (ảnh chụp 20 năm trước)

Chúng tôi cũng gặp chị Thào Thị Tùng (quê ở Bảo Yên, Lào Cai) đang băm sắn trước túp lều đầu bản. Thời điểm đó mới 30 tuổi nhưng Tùng đã kịp đẻ tới 5 đứa con, đứa lớn 10 tuổi và đứa nhỏ mới gần 2 tuổi. Thào Thị Tùng di cư tự do vào thời điểm đó đã 3 năm nhưng không có tiền để mua đất làm rẫy.

3 đứa con lớn của chị đều đã đến tuổi đi học nhưng chưa được đến trường. Tùng bảo: “Nhà mình đói mà, không đứa nào đi học đâu”, rồi chỉ tay về phía túp lều của mình và nói: “Bà con đang đòi lại đất, không cho mượn để làm nhà nữa nhưng mình chưa thể trả. Giờ trả đất thì con mình ở đâu? Mình bán hết đất, hết ruộng ở quê rồi!”

h7(1).jpg
Mẹ con chị Thào Thị Tùng trong túp lều nứa (ảnh chụp 20 năm trước)

Tôi cũng nhớ vợ chồng Giàng Seo Quáng cùng 2 đứa con nhỏ ngồi băm sắn giữa trời nắng chang chang. Mặt trời đã đứng bóng mà bếp vẫn chưa đỏ lửa. Quáng nói: “Nhà hết gạo mấy ngày rồi, làm một lúc nữa rồi đi luộc sắn ăn thôi…”.

Nen 2
ch5.png

Mà đâu chỉ riêng gì gia đình Giàng Seo Quáng, Thào Thị Tùng, Giàng A Chơ hay Thào A Chỉnh khổ. Cả cái làng hồi đó với 48 hộ người Mông gần 300 con người, mỗi người một quê nhưng đều giống nhau cái nghèo. Cuộc sống ở cố xứ quanh năm đói rách; nghe những người đi trước bảo Tây Nguyên lắm rừng, nhiều đất, dễ sống hơn nên mọi người dắt díu nhau vào. Số tiền ít ỏi mang theo chỉ đủ tiền tàu xe và đong gạo ăn vài tháng.

Vào đến nơi thì mọi chuyện không như họ nghĩ: đất đều đã có chủ, phá rừng thì kiểm lâm bắt, mà quay lại cố hương thì còn khổ hơn vì không còn đất, không nhà. Mà cũng chẳng có tiền để đi về, vậy là mọi người ở lại bám trụ qua ngày ở vùng đất này. Không tài sản, không một tấc đất, họ buộc phải dựng tạm những túp lều tranh để ở và canh tác trên đất đi thuê và… lén lút phá rừng.

Bữa cơm trưa dọn trên lá chuối của sáu người phụ nữ trồng ngô và những đứa con-ảnh chụp từ 20 năm trước
Bữa cơm trưa dọn trên lá chuối của 6 người phụ nữ trồng ngô và những đứa con (ảnh chụp từ 20 năm trước)

Cây sắn, hạt bắp không thể cho họ bữa no, bữa ngon. Cái đói, bệnh tật và thất học là những nỗi ám ảnh. Chặng đường 30 cây số từ làng của người Mông ra đến Trạm quân dân y xã Phi Liêng phải băng rừng đi hết 6 tiếng. Đã từng có nhiều bà con trong làng bị ốm, khi mang ra đến trạm y tế, bác sĩ bảo chậm vài chục phút nữa thì chết là chắc.

Báo chí thời đó thường nhắc đến những vùng đất nghèo “4 không”: không điện, không đường, không trường, không trạm. Bản Mông tiểu khu 179 thời đó cũng thiếu tất cả. Nhưng nơi này còn thiếu nhiều hơn nữa, mà cái thiếu lớn nhất là sự hoang mang chưa thể đoán định được số phận tương lai.

Thế nhưng, đúng là “không có ngọn núi nào cao bằng đầu gối người Mông” như lời 3 ông bạn Mông nhắc lại với tôi câu ví von về khí chất tộc người trong buổi sáng này. Với đôi chân quấn xà cạp, với cây dao phát lối trong tay, người Mông gắn đời mình với rừng và tung hoành núi non tạo nên những lối mòn, chinh phục những vùng hoang vu nhất.

Những người Mông di trú giã biệt quê hương nơi núi rừng phương bắc vào lập cư giữa đại ngàn Tây Nguyên đã vượt qua chặng đường gian khó, giờ đây họ đã có một cuộc sống ổn định, ấm no. Tôi mở điện thoại cho các ông bạn Mông xem những bức ảnh bản của họ ngày đầu khởi lập, những người quen của họ với hình ảnh rách nát, nhàu nhĩ, nghèo khổ. Mọi người thở dài rồi cùng cười vang ngay đó bởi họ đã trút lại một thời gian khó cho thời gian.

3 ông bạn Mông cùng chỉ tay cho tôi về hướng những ngôi biệt thự mái Thái, mái Nhật và những công trình phúc lợi khang trang nổi bật giữa thung lũng và những rẫy cà phê tươi tốt bên dòng K’rông Nô đang mải miết trôi. Tôi ngắm nghía mãi mới hình dung ra được những hình ảnh hiện về từ ký ức, ký ức ấy diễn ra cách đây khoảng 2 thập niên…

(Còn tiếp)

khoang trong

Nội dung, ảnh: Uông Thái Biểu
Trình bày: Hoàng Anh - Phạm Lương

    Tiểu khu 179, xã Đam Rông 2: Từ dân di cư tự do đến bản Mông giàu đẹp, hạnh phúc
    • Mặc định
    POWERED BY ONECMS - A PRODUCT OF NEKO