Để mạch Nghị quyết chảy vào cuộc sống
Thực tiễn công tác xây dựng Đảng chỉ ra một khoảng trống nhức nhối: Khoảng cách giữa “có mặt đi học” và “thực sự tiếp thu”, giữa văn bản ban hành và hành động thực tế. Ngay trong năm khởi đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, tình trạng học tập chiếu lệ, sao chép kế hoạch cấp trên nếu không giải quyết dứt điểm sẽ trở thành điểm nghẽn cản trở sự bứt phá. Trước đòi hỏi vận hành bộ máy tinh gọn và hiệu quả, Lâm Đồng đã bắt đúng bệnh, thẳng thắn đối diện với tồn tại để đặt lại câu hỏi căn bản: Học nghị quyết để làm gì?


Thực tiễn công tác xây dựng Đảng chỉ ra một khoảng trống nhức nhối: Khoảng cách giữa “có mặt đi học” và “thực sự tiếp thu”, giữa văn bản ban hành và hành động thực tế. Ngay trong năm khởi đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV, tình trạng học tập chiếu lệ, sao chép kế hoạch cấp trên nếu không giải quyết dứt điểm sẽ trở thành điểm nghẽn cản trở sự bứt phá. Trước đòi hỏi vận hành bộ máy tinh gọn và hiệu quả, Lâm Đồng đã bắt đúng bệnh, thẳng thắn đối diện với tồn tại để đặt lại câu hỏi căn bản: Học nghị quyết để làm gì?
.jpg)

Căn nhà cấp bốn của ông Nguyễn Đức Lực, ở thôn Suối Đá, xã Hồng Sơn, ngập tràn ánh nắng buổi sớm. Bên phên trà ngoài hiên, người đảng viên đã có 40 năm tuổi Đảng thong thả lật từng trang báo, dừng lại ở những dòng tin về công tác xây dựng Đảng rồi trầm ngâm nhìn ra khoảng sân trước nhà.
Ông Lực đã trải qua nhiều năm công tác ở cơ sở, chứng kiến không ít đợt học tập, quán triệt nghị quyết được tổ chức bài bản, quy mô. Với ông, điều đáng suy nghĩ sau mỗi hội nghị không phải là hội trường có đủ người, tài liệu có được phát đầy đủ hay bài thu hoạch có hoàn thành đúng hạn, mà là những nội dung đã được quán triệt sẽ được chuyển hóa thành công việc cụ thể như thế nào ở từng cơ quan, đơn vị và địa bàn.

Từ thực tế đó, ông Lực cho rằng: “Đi học mà về nhà không biết mình phải làm gì thì học để làm gì?”, ông Lực nói.
Câu nói mộc mạc của người đảng viên 40 năm tuổi Đảng gợi ra một khoảng cách không nhỏ trong công tác tư tưởng: giữa “có mặt” và “tiếp thu”, giữa “đã học” và “đã hiểu”, giữa “đã quán triệt” và “đã hành động”. Bởi suy cho cùng, giá trị của một nghị quyết không dừng ở việc được truyền đạt đầy đủ trong hội trường, mà phải được nhận thức, vận dụng và tạo thành những kết quả cụ thể trong thực tiễn.

Đó chính là "khoảng trống điểm danh", khoảng trống mà ở đó sự có mặt về mặt cơ học đôi khi được đồng nhất với sự tiếp thu về nhận thức, còn một bài thu hoạch hoàn thành lại được xem như dấu chấm hết của quá trình học tập. Trong khi đó, điều quyết định sức sống của nghị quyết lại bắt đầu từ sau hội trường, khi mỗi cán bộ, đảng viên trở về vị trí công tác của mình và phải trả lời được một câu hỏi cụ thể hơn nhiều: Nghị quyết này yêu cầu tôi thay đổi điều gì, phải giải quyết việc gì và tạo ra sản phẩm nào?

Sinh thời, Chủ tịch Hồ Chí Minh nhiều lần nhấn mạnh mục đích của việc học là để làm việc, làm người, làm cán bộ, để phụng sự Tổ quốc, phục vụ Nhân dân. Học lý luận không phải để trang trí cho nhận thức, càng không phải để thuộc lòng những câu chữ trong văn bản, mà phải giúp con người sửa chữa tư tưởng, nâng cao năng lực và biến điều đã học thành hành động trong thực tiễn.
Nhìn từ yêu cầu đó, một hội nghị đông người, một bài thu hoạch đầy đủ hay một hệ thống tài liệu được phát đến từng cán bộ, đảng viên mới chỉ là điều kiện cần. Điều kiện đủ phải là sự chuyển hóa từ nhận thức sang hành động, từ chủ trương sang nhiệm vụ cụ thể và từ nhiệm vụ cụ thể thành kết quả có thể nhìn thấy, đo đếm và kiểm chứng.
.jpg)
Đánh giá thực trạng công tác xây dựng Đảng, Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và các tổng kết thực tiễn đã thẳng thắn chỉ rõ: tình trạng học tập, quán triệt nghị quyết ở một số nơi vẫn nặng tính hình thức, chiếu lệ. Khoảng trống giữa “đã học” và “đã hiểu”, giữa “đã quán triệt” và “đã làm” đang là rào cản cản trở sự phát triển. Nhiều văn bản ban hành rất hay, mục tiêu rất lớn, nhưng khi xuống đến cơ sở thì bị "triệt tiêu" năng lượng thực thi vì cán bộ thụ động, học theo kiểu "vịt nghe sấm", không chuyển hóa được tri thức thành hành động.
Từ thực tiễn công tác tuyên giáo và xây dựng Đảng tại địa phương, đồng chí Bùi Huy Thành, Ủy viên Ban Thường vụ, Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Lâm Đồng cho rằng, nâng cao chất lượng học tập, quán triệt nghị quyết là yêu cầu cấp thiết, nhất là trong bối cảnh tỉnh bước vào giai đoạn phát triển mới với những yêu cầu ngày càng cao về năng lực quản trị và hiệu quả thực thi. Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận những hạn chế đang tồn tại, đồng chí Bùi Huy Thành chỉ ra 3 rào cản lớn.
Trước hết là khâu cụ thể hóa nghị quyết ở một số nơi chưa thật sự sát thực tiễn. Kế hoạch hành động còn dàn trải, rập khuôn, thậm chí sao chép văn bản cấp trên, chưa bám sát chức năng, nhiệm vụ và nguồn lực của từng cơ quan, đơn vị; trong khi đó, các tiêu chí định lượng để xác định kết quả chưa rõ. Khi nghị quyết được chuyển thành một chương trình hành động chung chung, thiếu địa chỉ và thiếu thước đo, "dòng chảy" của nghị quyết có thể đã bị nghẽn ngay từ khâu cụ thể hóa.

Điểm nghẽn thứ hai nằm ở quyết tâm chính trị. Ở một số cấp ủy, tổ chức đảng, nhất là người đứng đầu, sự quyết liệt chưa tương xứng với yêu cầu nhiệm vụ; trước những vấn đề mới, việc khó, phức tạp hoặc tồn đọng kéo dài, tâm lý né tránh trách nhiệm, làm việc cầm chừng vẫn còn xuất hiện. Khi người đứng đầu chưa thật sự chuyển động, rất khó tạo ra chuyển động đồng bộ trong cả hệ thống.
Điểm nghẽn thứ ba là việc theo dõi, đôn đốc, kiểm tra chưa thường xuyên và toàn diện. Có nơi dành nhiều tâm sức cho việc tổ chức hội nghị quán triệt nhưng lại chưa chú trọng đúng mức đến quá trình tổ chức thực hiện, kiểm tra tiến độ, đánh giá kết quả và kịp thời điều chỉnh những vấn đề phát sinh. Nghị quyết vì thế có thể được học rất đầy đủ ở thời điểm ban đầu nhưng lại thiếu một cơ chế đủ mạnh để duy trì việc thực hiện đến cùng.

Sự ra đời của Quy định số 19-QĐ/TW, Nghị quyết số 25-NQ/TW của Bộ Chính trị, cùng Chỉ thị số 07-CT/TW đã gióng lên hồi chuông chấn chỉnh lề lối công tác tư tưởng trên phạm vi toàn quốc. Tinh thần cốt lõi được Trung ương xác lập là siết chặt kỷ luật thực thi, khắc phục triệt để bệnh hình thức, chuyển mạnh từ “học tập và làm theo” sang “học tập và thực hành”, nghĩa là chuyển từ “học điều đúng” sang “học cách làm đúng”.

Theo Trưởng Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy Bùi Huy Thành, tỉnh cũng đang siết chặt trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, bảo đảm 100% cán bộ, đảng viên được học tập nghị quyết, đồng thời đẩy mạnh ứng dụng công nghệ để đánh giá thực chất mức độ tiếp thu. "Hiện nay, Lâm Đồng đang vận hành thử nghiệm phần mềm điểm danh, khảo sát trực tuyến tại các hội nghị quán triệt nghị quyết, đem lại chuyển biến bước đầu rõ nét, đang tiếp tục hoàn thiện để vận hành chính thức trong quý IV/2026", đồng chí Bùi Huy Thành cho biết.

Điều đáng chú ý là ở đây, công nghệ không được đặt ra chỉ để thay thế việc điểm danh bằng một phương thức hiện đại hơn, mà hướng đến thay đổi chính cách đánh giá kết quả học tập. Nếu trước đây câu hỏi chủ yếu là "đã tham gia hay chưa", thì yêu cầu mới phải tiến tới trả lời được "đã hiểu đến đâu" và quan trọng hơn là "đã vận dụng được gì vào công việc".

Yêu cầu chuyển từ "học nghị quyết" sang "học để hiểu, để làm và để tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể" càng trở nên cấp thiết trong bối cảnh Lâm Đồng vận hành mô hình chính quyền địa phương 2 cấp.

Khi một cấp trung gian được bỏ đi, khoảng cách từ chủ trương đến cơ sở được rút ngắn, tốc độ chỉ đạo, điều hành được yêu cầu cao hơn, nhưng đồng thời trách nhiệm của cấp trực tiếp tổ chức thực hiện cũng trở nên nặng nề hơn. Một chủ trương nếu không được hiểu đúng, vận dụng đúng ngay tại cơ sở có thể nhanh chóng biến thành sự lúng túng trong xử lý công việc, thậm chí làm chậm cả chuỗi vận hành của bộ máy.

Phân tích yêu cầu này, đồng chí Y Thanh Hà Niê Kđăm, Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Lâm Đồng nhấn mạnh rằng, quản trị phát triển trong giai đoạn mới đòi hỏi cả tốc độ lẫn hiệu quả thực chất. Với một chủ trương, một nghị quyết, chỉ cần một khâu chậm, một mắt xích trì trệ cũng có thể kéo lùi cả chuỗi công việc.
Theo Bí thư Tỉnh ủy, điểm nghẽn nhiều khi không nằm ở chủ trương mà nằm ở khâu triển khai: Nghị quyết đã ban hành nhưng nơi trực tiếp tổ chức thực hiện chưa nắm chắc, chưa hiểu sâu, dẫn đến lúng túng hoặc làm cầm chừng. Vì vậy, chuyển từ "học nghị quyết" sang "học để hiểu, để làm và để tạo ra sản phẩm, kết quả cụ thể" không đơn thuần là thay đổi phương pháp học, mà là một yêu cầu xuất phát từ chính thực tiễn vận hành bộ máy.

"Muốn quyết sách đi vào cuộc sống, phải nối thông một mạch liên hoàn: từ mục tiêu chiến lược, kết quả phải đạt, chương trình ưu tiên, việc cụ thể, đến người chịu trách nhiệm, thẩm quyền, nguồn lực, thời hạn, dữ liệu theo dõi, kiểm tra và điều chỉnh", Bí thư Tỉnh ủy Y Thanh Hà Niê Kđăm nhấn mạnh, đồng thời yêu cầu "mỗi mắt xích phải rõ; mỗi điểm nghẽn phải có nơi xử lý; mỗi kết quả phải có người chịu trách nhiệm đến cùng".

Đó cũng chính là sự thay đổi căn bản trong cách nhìn về việc học nghị quyết. Học không còn là một điểm kết thúc sau hội nghị, mà là điểm khởi đầu của một chuỗi hành động liên tục; quán triệt không chỉ để cán bộ, đảng viên biết chủ trương, mà phải giúp mỗi người hiểu mình cần làm gì, làm bằng cách nào, trong thời gian bao lâu và kết quả cuối cùng phải được thể hiện ra sao.
Bởi vậy, trong năm đầu triển khai Nghị quyết Đại hội XIV của Đảng, câu hỏi đặt ra với Lâm Đồng không còn đơn giản là tổ chức bao nhiêu hội nghị, có bao nhiêu người tham dự hay thu về bao nhiêu bài thu hoạch. Câu hỏi lớn hơn là làm thế nào để sau mỗi hội nghị, một nhiệm vụ được xác định rõ hơn, một điểm nghẽn được tháo gỡ nhanh hơn và một sản phẩm cụ thể được tạo ra. Khi đó, nghị quyết mới thực sự bắt đầu "chảy" vào cuộc sống.

Và để dòng chảy ấy không bị nghẽn giữa đường, Lâm Đồng đang đặt ra một yêu cầu cao hơn đối với toàn bộ hệ thống: đã học nghị quyết thì phải có hành động; đã giao nhiệm vụ thì phải có người chịu trách nhiệm; đã cam kết thì phải có sản phẩm để kiểm chứng. Đó chính là điểm khởi đầu cho một cuộc chuyển đổi từ "học để biết" sang "học để hiểu, để làm và để tạo ra giá trị cụ thể", một yêu cầu sẽ tiếp tục được cụ thể hóa bằng kỷ cương "6 rõ" và trách nhiệm đến cùng của người đứng đầu.
(Còn nữa)
Nội dung và ảnh: Thanh Nhàn - Phan Tân
Trình bày: Nguyệt Nga (bài viết có sử dụng hình ảnh tư liệu)

