Khí phách Việt giữa hồn thiêng dân tộc
Kể từ ngày non sông nối liền một dải cho đến công cuộc xây dựng bảo vệ đất nước ngày hôm nay, các đợt diễu binh, diễu hành luôn gắn liền với những dấu mốc trọng đại của đất nước. Đó không chỉ là sự tưởng nhớ, tri ân những hy sinh xương máu trong quá khứ của thế hệ cha anh đi trước, hay sự tiếp nối truyền thống vẻ vang, hào hùng của dân tộc mà còn là lời khẳng định của Việt Nam trước bạn bè quốc tế với niềm tự hào, tự tôn dân tộc trên dải đất hình chữ S: Bản lĩnh, hùng cường, sẵn sàng bảo vệ vững chắc chủ quyền, độc lập và toàn vẹn lãnh thổ.
Bài 1: Đặt nền móng cho thế hệ mai sau
Từ những sự kiện trọng đại của đất nước, hình ảnh các đoàn quân tại lễ duyệt binh trong lịch sử Việt Nam không chỉ mang ý nghĩa biểu tượng, khắc họa khát vọng độc lập, mà còn truyền đi thông điệp mạnh mẽ đến với bạn bè quốc tế về một dân tộc bản lĩnh, tự cường và vững vàng trước mọi thách thức của thời đại.
Ký ức về lễ duyệt binh đầu tiên trong lịch sử
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ ngày 7/5/1954, Bộ Chỉ huy chiến dịch quyết định tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng vào ngày 13/5/1954 tại Mường Phăng, nơi đặt Chỉ huy sở chiến dịch của Đại tướng Võ Nguyên Giáp.
Theo bài viết Nhớ mãi lễ duyệt binh 55 năm trước tại Mường Phăng được Báo Quân đội Nhân dân đăng vào ngày 21/4/2009, các đơn vị đã tề tựu đông đủ gồm đủ đại diện các Đại đoàn 304, 308, 312, 316 và các đơn vị tiêu biểu của pháo binh, cao xạ, công binh. Buổi lễ bắt đầu. Đại đoàn phó Đại đoàn 312 Đàm Quang Trung duy trì lễ chào cờ, tiếng hô vừa dứt: “Chào cờ… chào!”, loạt đạn pháo 105mm nổ ầm vang, rung cả núi đồi xen vào là các loạt cao xạ nổ đoàng… đoàng... Loạt đạn cuối cùng vừa dứt thì lá cờ đỏ sao vàng đã tung bay phần phật trên đỉnh cột. Sau chào cờ là lễ truy điệu các liệt sĩ đã anh dũng hy sinh trong chiến dịch. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đọc thư của Bác Hồ trước máy truyền thanh.

Trong Hồi ký “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” của Đại tướng Võ Nguyên Giáp do Nhà văn Hữu Mai thực hiện: “… Ngày 13/5/1954, ta tổ chức lễ duyệt binh mừng chiến thắng Điện Biên Phủ tại khu đồi phía đông sở chỉ huy Mường Phăng. Đại diện các đơn vị tham chiến có mặt đầy đủ. Lá cờ chiến thắng được hai đại đội trưởng: Tạ Quốc Luật, người đã bắt De Castries ở Điện Biên Phủ, và Đàm Văn Thiên, thuộc đại đội phòng không 818 bắn rơi nhiều máy bay nhất, kéo lên…” - Đại tướng Võ Nguyên Giáp chia sẻ.
Đánh dấu sự kiện chính trị trọng đại của dân tộc Việt Nam sau Chiến thắng Điện Biên Phủ, lễ duyệt binh đầu tiên với quy mô lớn nhất của Nhà nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa diễn ra vào ngày 1/1/1955 tạị Quảng trường Ba Đình. Lễ duyệt binh diễn ra chào mừng Chủ tịch Hồ Chí Minh cùng Trung ương Đảng trở về Thủ đô sau 9 năm trường kỳ kháng chiến.
Theo các tài liệu ghi lại, lễ duyệt binh đầu tiên của Quân đội Nhân dân Việt Nam lúc bấy giờ khiến báo chí phương Tây khi ấy không khỏi trầm trồ trước khí thế hào hùng của một dân tộc nhỏ bé, từng trải qua bao năm bị áp bức, đô hộ dưới ách thống trị của thực dân Pháp. Vào thời điểm đó, thực dân Pháp đã rút khỏi miền Bắc, ngoại trừ khu vực Hải Phòng.
Trên Quảng trường lịch sử năm đó, đoàn quân đánh bại đạo quân tinh nhuệ của Pháp ở chiến trường Điện Biên Phủ vào tháng 5/1954 hiên ngang chính thức ra mắt trước đồng bào và bạn bè quốc tế sau thắng lợi vẻ vang của chiến dịch Điện Biên Phủ. Trong thước phim quý giá của nhà làm phim người Nga Roman Karmen, lễ duyệt binh dưới sự chứng kiến của Chủ tịch Hồ Chí Minh, Đại tướng Võ Nguyên Giáp, các đồng chí lãnh đạo Đảng, chính phủ, sự xuất hiện của lực lượng vũ trang, hàng chục xe cơ giới, cùng các loại vũ khí, phương tiện quân sự càng tăng thêm phần khí thế hào hùng, đánh dấu mốc cho một cuộc duyệt binh đi vào lịch sử.
Dưới khán đài, từng đoàn quân mặc áo trấn thủ, đầu đội mũ nan, tay bồng súng với bước chân hùng hồn thể hiện tinh thần đoàn kết, ý chí quyết chiến, quyết thắng, khát khao hòa bình của dân tộc Việt Nam. Giây phút thiêng liêng ấy càng đặc biệt hơn khi từng đoàn quân lần lượt xuất hiện đi giữa vòng tay thân thương của người dân cả nước. Ở đó có những bó hoa dại, những chiếc khăn tay vẫy gọi trong gió, những tràng vỗ tay không ngớt như nối dài niềm vui hội ngộ giữa những người lính và hậu phương. Đó không chỉ là thanh âm của ngày hội lớn mà còn là thanh âm của sự can trường, chiến công vang dội của một dân tộc vốn là thuộc địa, đánh thắng quân đội hiện đại của một đế quốc phương Tây.
Trong Hồi ký “Điện Biên Phủ - Điểm hẹn lịch sử” tại Chương 14 Điện Biên Phủ - Hà Nội, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xúc động nói: “Ngày 1 tháng 1 năm 1955, Chính phủ và Trung ương Đảng trở về Hà Nội, Bác Hồ gặp lại đồng bào ở Quảng trường Ba Đình, nơi chín năm trước Người đọc bản Tuyên ngôn độc lập lịch sử. Nụ cười của Bác Hồ trên lễ đài sẽ sáng mãi trong trang sử mới của Hà Nội nối tiếp Đông Đô, Thăng Long xưa.
Chúng ta đã tổ chức cuộc duyệt binh lớn đầu tiên ở Hà Nội, một cuộc duyệt binh bộ đội, dân quân du kích chỉ mang theo toàn vũ khí của Pháp và Mỹ, từ vũ khí nhẹ, vũ khí nặng, đến các phương tiện thông tin đều là chiến lợi phẩm thu được trong chiến đấu. Ba chiếc xe tăng được đưa từ Điện Biên Phủ về, sửa chữa lại, mở đầu cuộc diễu hành”.
Cùng nhau viết tiếp câu chuyện vẻ vang của quân và dân ta, năm 1973, một lần nữa trên Quảng trường Ba Đình, Quân đội Nhân dân Việt Nam trọng thể tổ chức duyệt binh nhân ngày Quốc tế lao động 1/5 và đặc biệt đánh mốc son chói lọi trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, chấm dứt sự chiếm đóng của các đội quân xâm lược nước ngoài sau khi Hiệp định Paris được ký kết.
Hòa chung bầu nhiệt huyết, sục sôi lòng yêu nước, kết thành niềm tự hào, niềm tin son sắt từ người già, trẻ nhỏ đến các tầng lớp Nhân dân đều mong chờ giây phút nhìn thấy đoàn quân đi qua. Khi ấy, dưới sự dẫn đầu đoàn quân đi qua lễ đài là Đại tướng, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp, sau đó lần lượt các khối binh sỹ kiêu hãnh bước đều hùng dũng giữa lòng Thủ đô.
Không còn những vật dụng thô sơ cầm trên tay sau hơn 18 năm cuộc duyệt binh lần đầu tiên diễn ra, lần này Quân đội Nhân dân Việt Nam trưng dụng lực lượng với sự tham gia đầy đủ các binh chủng hải quân, lục quân, không quân, các đoàn xe cơ giới hùng hậu từ các xe tăng, xe bọc thép lội nước, các giàn tên lửa, và trên trời là giàn tiêm kích…
Diễu binh khi non sông thu về một mối
Thời khắc lá cờ giải phóng tung bay trên nóc Dinh Độc Lập trưa ngày 30/4/1975 đã đi vào lịch sử dân tộc như một dấu son chói lọi – ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng, đất nước thống nhất, non sông liền một dải sau nửa thế kỷ chia cắt. Đó không chỉ là mốc son huy hoàng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đầy gian khổ, mà còn là biểu tượng bất diệt cho ý chí quật cường, lòng yêu nước, và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân tộc, là khát vọng hòa bình, độc lập, thống nhất non sông.

Ngày 15/5/1975, Đảng và Nhà nước ta tổ chức lễ diễu binh mừng chiến thắng tại thành phố Sài Gòn - Gia Định với quy mô toàn quốc. Theo các tài liệu ghi lại, khi ấy người dân Sài Gòn (nay là TP Hồ Chí Minh) xuống đường tham dự lễ duyệt binh mừng chiến thắng. Đây là lễ kỷ niệm quy mô lớn nhất được tổ chức ở miền Nam nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa kể từ khi Pháp tái chiếm Nam Bộ tháng 9/1945.
Hàng triệu người dân thành phố cùng cán bộ, chiến sĩ, học sinh và các tầng lớp nhân dân tham gia sự kiện. Các đội hình xe tăng, pháo, bộ đội chủ lực và dân quân diễu hành trong khí thế hân hoan.
Ngày 15/5/1975, trở thành một cột mốc đặc biệt trong thời điểm lịch sử của dân tộc. Tiếp nối truyền thống vang dội sau đó là các lễ diễu binh, diễu hành với quy mô lớn được diễn ra vào ngày 2/9/1975 nhân kỷ niệm Cách mạng Tháng Tám thành công, 30 năm ngày thành lập nước và mừng đất nước thống nhất tại Quảng trường Ba Đình, với sự tham gia của hàng chục nghìn người cùng nhiều khí tài, phương tiện quân sự hiện đại. Đặc biệt, lễ diễu binh ngày 2/9/1985 nhân kỷ niệm 40 năm Cách mạng Tháng Tám và Quốc khánh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là buổi lễ có quy mô lớn nhất trong lịch sử đất nước.

Từ một nước thuộc địa, không có tên trên bản đồ thế giới, Việt Nam nay đã hiên ngang khẳng định tầm vóc của một dân tộc quật cường. Có lẽ, với không ít quốc gia trên thế giới, lễ duyệt binh còn là dịp để “phô diễn” sức mạnh quân sự. Nhưng với Việt Nam, lễ diễu binh, diễu hành mang ý nghĩa đặc biệt, đó là hình ảnh những người lính “chân trần, chí thép”, bước đi hiên ngang giữa vùng trời của Tổ quốc. Họ không chỉ mang theo súng đạn, mà còn mang trong mình ý chí kiên định, sẵn sàng hy sinh xương máu vì độc lập, tự do và lý tưởng cách mạng của dân tộc Việt Nam.
