Tuyên ngôn Ðộc lập 2/9 vẫn nguyên giá trị về tinh thần tự do, độc lập
Cập nhật lúc 08:55, Thứ Năm, 31/08/2017 (GMT+7)
72 năm trước, ngày 2/9/1945 tại Quảng trường Ba Đình lịch sử, Bản Tuyên ngôn Độc lập bất hủ do Chủ tịch Hồ Chí Minh khởi thảo và tuyên bố trước toàn thế giới: Nước Việt Nam có quyền Độc lập đã mở ra một kỷ nguyên mới - lần đầu tiên người dân Việt Nam có quyền ngẩng cao đầu tự hào mình là công dân của một nước tự do và độc lập.
 
Dân tộc Việt Nam đã trải qua hàng nghìn năm dựng nước và giữ nước, lịch sử đất nước là một pho lịch sử bằng vàng về tinh thần bất khuất, ý chí độc lập, tự do. Trong tiến trình đấu tranh giữ nước, Cách mạng Tháng Tám không phải là cuộc khởi nghĩa thành công đầu tiên; Bản Tuyên ngôn Độc lập ngày 2/9/1945 cũng không phải bản Tuyên ngôn Độc lập đầu tiên. Ngược dòng lịch sử, năm 1482, đã hào hùng vang lên áng thiên cổ hùng văn “Bình Ngô Đại Cáo” của Nguyễn Trãi và trước đó hơn 4 thế kỷ (năm 1077) bài thơ “Nam Quốc sơn hà” làm bạt vía quân xâm lược phương Bắc của Lý Thường Kiệt cũng thể hiện âm hưởng của những bản Tuyên ngôn Độc lập. Lịch sử chứng minh qua những bản Tuyên ngôn Độc lập, dân tộc Việt Nam chưa chịu thua bất kỳ một kẻ thù xâm lược nào và đã giành được Độc lập - Tự do bằng chính tinh thần đoàn kết dân tộc kết hợp với lòng yêu nước nồng nàn.
 
Chỉ hơn 1.000 từ nhưng Bản Tuyên ngôn Độc lập Chủ tịch Hồ Chí Minh tuyên đọc ngày 2/9/1945 đã khẳng định rõ nét nền độc lập của dân tộc Việt Nam sau gần một thế kỷ bị thực dân Pháp cai trị. Chỉ có Tổng khởi nghĩa Cách mạng Tháng Tám thành công, nước Việt Nam mới trở lại với người Việt Nam và “Nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa” mới được đặt tên trên bản đồ thế giới. Từ đó, dưới ngọn cờ độc lập dân tộc, tư tưởng “tự lực cánh sinh” dựa vào sức mình là chính đã trở thành phương châm chiến lược của Đảng và Bác Hồ kính yêu trong suốt cuộc kháng chiến trường kỳ 30 năm để giành lại độc lập trọn vẹn cho non sông gấm vóc. Chủ tịch Hồ Chí Minh khẳng định “Có tự lập mới độc lập, có tự cường mới tự do”. Người còn có câu nói bất hủ “Không có gì quý hơn độc lập, tự do”. 72 năm nhìn lại, những giá trị của Bản Tuyên ngôn Độc lập 2/9/1945 vẫn nóng hổi tính thời sự khi độc lập, chủ quyền của đất nước vẫn đang đứng trước nhiều thách thức. Trong thời hội nhập quốc tế, vấn đề đặt ra là phải kiên định tư tưởng Chủ tịch Hồ Chí Minh về độc lập dân tộc gắn liền với chủ nghĩa xã hội bởi đó là sự lựa chọn của chính lịch sử, của dân tộc. Sự đúng đắn này được chứng minh qua thực tiễn cách mạng nước ta dưới sự lãnh đạo của Đảng: Đó là thắng lợi của Cách mạng Tháng Tám 1945; thắng lợi của 9 năm trường kỳ chống thực dân Pháp (1945-1954); thắng lợi của cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước (1954-1975) và những thắng lợi to lớn, có ý nghĩa lịch sử trong hơn 30 năm đổi mới đất nước. Độc lập dân tộc không chỉ là mục tiêu hàng đầu mà còn là yếu tố tạo tiền đề (chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội) và tạo điều kiện đi tới chủ nghĩa xã hội. Chủ nghĩa xã hội bảo vệ vững chắc thành quả độc lập dân tộc; tạo sức mạnh bảo vệ độc lập dân tộc,… nếu chủ nghĩa xã hội không tự hoàn thiện mình thì độc lập dân tộc cũng không có ý nghĩa gì. 
 
Trong hoàn cảnh hiện tại, việc xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa phải gắn chặt với phát huy quyền làm chủ của nhân dân, xây dựng nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, thực hiện đại đoàn kết toàn dân tộc. Đồng thời phải gắn với tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng, nâng cao năng lực lãnh đạo, năng lực cầm quyền và sức chiến đấu của Đảng, với xây dựng, hoàn thiện hệ thống chính trị. Hơn bao giờ hết, mỗi cán bộ, đảng viên cần thấm nhuần sâu sắc lời Chủ tịch Hồ Chí Minh căn dặn trong “Di chúc”: “Đảng ta là một Đảng cầm quyền. Mỗi đảng viên và cán bộ phải thật sự thấm nhuần đạo đức cách mạng, thật sự cần kiệm liêm chính, chí công vô tư. Phải giữ gìn Đảng ta thật sự trong sạch, phải xứng đáng là người lãnh đạo, là người đầy tờ thật sự trung thành của nhân dân”. 
 
HỒ LAN
,
.